Xấp vải áo dài.
Ngồi ôn kỷ niệm, bổng dưng tôi thấy hiện ra trước mắt những lượn sóng biển đổ xô về phía con tàu duyên tốc đĩnh 3855 của tôi. Tai tôi nghe rõ mồn một tiếng sóng vỗ vào mạn tàu rào rào. Con tàu lắc ngang, nhồi dọc, cứ lầm lủi lặn hụp tiến về phía trước.
Tiếng máy nổ vẫn nghe rì rầm hòa trong tiếng sóng và tiếng gió. Thỉnh thoảng vang lên âm thanh khác thường từ phía sau lái khi tàu chúi mũi xuống và nâng lái lên, làm ống thoát khói cất lên khỏi mặt nước rồi hạ xuống trở lại. Những chuyển động nầy tạo ra những âm thanh khác nhau từ ống phun khói lúc trên mặt nước, lúc dưới mặt nước, làm thành một thứ âm thanh nghe ục ục, và chân vịt quay trên măt nước nghe rồ rồ. Trên đất liền không có thứ tạp âm nầy.
Bấy giờ vào tháng 6, đang là mùa gió mùa tây nam. Ngọn gió mùa tây nam thổi trên vịnh Thái Lan, đôi khi gây nên sóng lớn, biển động mạnh ở vùng Rạch Gía, Hà Tiên và phía tây của đảo Phú Quốc .
Cuộc hành quân tìm kiếm.
Vào mùa nầy, các chuyến công tác tuần tiễu ở những vùng kể trên thật là khó khăn và vất vả. Tôi còn nhớ rất rõ, ngày kia, một chiếc duyên tốc đĩnh do một trong những người bạn của tôi làm thuyền trưởng, vào hòn Nghệ thuộc quần đảo Bà Lụa, để núp sóng.
Đang công tác tuần tiễu mà bỏ vùng đi nơi khác không có lệnh cấp trên là vi phạm lệnh hành quân, nói gọn hơn, là quân lệnh. Tội nầy có thể khiến người vi phạm phải ra tòa án quân sự.
Bộ chỉ huy Hải đội 4 duyên phòng phải gửi mấy chiếc tuần duyên đĩnh đặt dưới quyền chỉ huy của HQ Đại úy VCM, đi tìm kiếm chiến đĩnh bị mất tích nầy.
Sợ lộ tung tích nên vị thuyền trưởng “ tàu mất tích “ nghĩ ra kế sách " im lặng là vàng ". Rồi từ đó chiến đĩnh im lặng vô tuyến luôn.
Ra khỏi mũi Ông Đội, các chiến đĩnh trong đội tìm kiếm được phân công đi đến các đảo thuộc hai quần đảo Bà Lụa và Les Pirates để tìm kiếm chiếc PCF.mất liên lạc. Cuối cùng chiếc PCF đi lạc đã được tìm thấy tại phía đông của hòn Nghệ thuộc quần đảo Bà Lụa.
Kết quả cuộc hành quân được báo cáo về bộ chỉ huy Hải đôi là đã gặp chiếc PCF38**, Chiến đĩnh đang ở trong tình trạng khiển dụng, thủy thù đoàn vô sự, sẳn sàng trở lại vùng công tác đã được chỉ định. Các chiến đĩnh tham gia cuộc hành quân tìm kiếm được lệnh trở về căn cứ, HD4DP, tại An Thới. Vị thuyền trưởng của chiếc tàu được ghi nhận mất tích tiếp tục công tác và sau khi mãn công tác, về bến, lên trình diện Chỉ huy trưởng Hải Đội và bị kỷ luật về sự sai phạm của mình.
Công tác dân sự vụ.
Sự giao thông qua lại giữa hải đảo Phú Quốc và đất liền rất khó khăn. Có tàu đò, nhưng không đủ khả năng cung ứng cho nhu cầu nầy, nên Hải đội đảm nhận thêm công tác dân sự vụ. Mỗi khi chiến đĩnh ra vùng công tác tuần tiễu, nếu gần Rạch Giá thì nhận chở dân chúng quá giang đi Rạch Giá. Chuyến về cũng vậy, trước khi khởi hành về bến, thường chiến đĩnh nhận được lệnh chở người quá giang. Số người nầy bao gồm quân nhân đi phép về hoặc đến công tác ở Phú Quốc và dân thường.
Hải đội quy định số người quá giang tối đa là 25 người. Lệnh lạc rất rõ ràng và giản dị, nhưng nhiều thuyền trưởng bi khiển trách vì không thi hành nghiêm chỉnh lệnh nầy. Con số quá giang thường nhiều hơn 25 người. Hằng tháng, mổi lần họp sĩ quan, vấn đề nầy đều được nêu ra để nhắc nhở hoặc cảnh cáo.
Ghé các đảo trong các quần đảo Bà Lụa và Les Pirates Hà Tiên.
Mặc dầu không được phép nghỉ bến tại các đảo nầy, nhưng chắc không có vị thuyền trưởng PCF tức duyên tốc đĩnh nào thuộc Hải đội 4 duyên phòng mà không ghé mấy hòn đảo nầy, từ hòn Tre Hà Tiên, hòn Nghệ, Bà Lụa, đến hòn Tre Rạch Gíá và hòn Sơn Rái, và vào tận Hà Tiên và Rạch Gíá.
Tôi còn cả gan, ghé cảng Sihanoukville, lúc bấy giờ gọi là cảng Kompongsom.Tôi bị Đai tá Đ K., Tư Lệnh HQ/V4DH phạt bốn ngày tù trọng cấm không giam giữ. Tôi còn rủ thêm một ông Hạm trưởng PGM, tuần duyên hạm, báo hại ông Hạm trưởng nầy bị Đại tá Đ K phạt 08 ngày trọng cấm.về tội bất tuân thượng lệnh. Tôi không ân hận. Bởi e ngại lực lượng Hải quân Campuchia có thể ngộ nhận rồi bắn lằm, tôi ghé vào bến cảng nầy để dễ dàng liên lạc với Hải quân ở đây.
Tôi không thể liên lạc với họ trên máy âm thoại, Mọi liên lạc phải qua trung gian của trung tâm hành quân V4DH / An Thới. Cái khó khăn thứ hai là sĩ quan Hải quân Campu-chia rành tiếng Pháp chứ ít người rành tiếng Anh, còn tôi thì cả hai thứ chỉ biết lõm bõm.
( connaitre sơ sơ, nói theo ngôn ngữ của HQ Đại tá Phan Phi Phụng )
Sự phòng xa của tôi không phải hoàn toàn vô lý, hoặc ngụy biện. Trên tàu lúc nào cũng có một liên lạc viên Mỹ, lẽ ra phải có một người của xứ chùa Tháp trên tàu mới đúng vì tôi đang ở trong lãnh hải của họ.
Được hoan nghinh bất ngờ.
Tại hải cảng Kompongsom, tôi đươc tiếp đãi như một thượng khách. Trong buổi tiệc khoản đãi có khoảng 60 người tham dự gồm sĩ quan Hải quân, sĩ quan Bộ binh, viên chức chánh quyền. Đặc biệt, có cả ông Thị trưởng của thành phố cảng Kompongsom.
Vùng công tác của tàu tôi là phía bên ngoài cảng Kompongsom.
Với 04 củ, ngày tù, tôi không hối tiếc mà nghĩ bụng là vẫn còn lời chán. Dầu sao, một chút lỗi lầm, khuyết điểm cũng giúp cho mình có kinh nghiệm hơn và đây cũng là những kỷ niệm khó quên trong đời. Có điều chắc chắn là đời nầy kiếp nầy dù tôi có muốn làm lại cái lỗi lầm ấy cũng không được.
Trở về với bến bờ Việt Nam.
Sau cuộc phiêu lưu mạo hiểm trên, tôi trở về công tác tuần tiễu tại các vùng bờ biển Viêt Nam. Chuyến công tác kế tiêp, tàu tôi đảm nhận vùng miệt thứ, tức bên ngoài các kinh ở ngoại biên Rach Gía. Các kinh nầy là kinh A kinh B, và các kinh mang số theo thứ tự. Hôm ấy, biển tương đối êm, sóng 2, tàu tôi tuần tiễu gần bờ và phát hiện một chiếc ghe sát bờ, có vẻ khả nghi. Tôi cho gọi, gọi không được tôi cho bắn chỉ thiên để gọi cũng không được. Tàu vào gần hơn, mới biết là chiếc ghe đuôi tôm bị hư máy. Trên chiếc ghe máy nầy có hai người, một người đàn bà chừng 40 tuổi và một cô gái. Đồ đạc của họ gồm nồi chảo và mấy cái thùng lớn. Họ cho biết, trên đường từ An Hòa, Rạch Sỏi đi đến sông ông Đốc, ghe của họ chết máy giữa biển. Tôi quyêt định kéo chiếc ghe hư máy nầy theo sau tàu. Sự thật là tôi cũng không biết mình có nên làm như vậy hay không.
Kéo theo có nghĩa là tàu tôi đi đến đâu thì chiếc ghe hư nầy đi đến đó
Kể từ hôm ấy, tàu tôi có thêm hai thủy thủ nữa, đăc biệt là nữ .Người đàn bà trên chiếc ghe là người theo cô gái để giúp đỡ trong việc mua cá khi đến sông ông Đốc. Bà nầy giúp chúng tôi làm bếp, nhân viên trên chiến đĩnh được nghỉ, nhưng tôi ra lệnh họ canh giữ và theo dõi mấy người phụ nữ nầy. Tôi biết khu vực họ ở rất nhiều VC. Cô gái làm thủy thủ tập sự và thường xuyên ngồi vào ghế của người lái. Tôi ngồi bên cạnh, trên chiếc ghế dành cho thuyền trưởng. Công việc không bình thường nầy kéo dài gần một tuần lễ. Ban đêm, tôi đưa tấm drap cho cô gái trải dưới sàn để nằm tạm. Tôi không thể làm cách nào khác hơn, trong khi tôi nằm vào giường của thuyền trưởng. Tôi phải giữ tác phong của người chỉ huy nên tôi phải xấp xếp như vậy. Nếu ở chỗ riêng tư tôi đã hoán đổi vị trí cho nhau hoặc theo cách nào đó.
Tôi thích bản nhạc Đêm cuối của Ngọc Sơn, đặc biêt là câu “ em đây rồi mà xa ngàn khơi “, một phần cũng vì cái chuyện nầy. Trong đêm họp măt tại San Jose, năm 2007, kỷ niệm 40 mươi năm, ngày khóa 16 SQHQ /NT, Đệ Nhị Bắc Giải ra khơi, tôi hát bản nầy trong giờ sinh hoạt văn nghệ và karaoke để nhớ lại một khoảng đời đã qua trên sóng nước.
Gần gũi trở nên thân quen.
Lúc mới bước chân lên tàu, cô gái có vẻ rụt rè e ngại. Sau vài hôm cô bé dạn dĩ hơn và bắt đầu nói chuyện và kể chuyện gia đình cho tôi nghe. Gia đình có ba chị em, hai gái và một trai mà cô là người thứ hai và người em trai là út. Ở nhà gọi cô là Em, tên khai sanh của cô là Quyên mà hình như chưa ai gọi cái tên đẹp đẽ nầy của cô. Tôi là người gọi cô là Quyên nhiều nhất từ trước đến nay mặc dầu chỉ có trong mấy ngày. Tuổi của tôi hơn hai lần tuổi của Quyên vài tháng.
Trong cách xưng hô, Quyên gọi tôi theo cấp bậc của tôi là Trung úy, xưng cháu.
Tôi gọi Quyên bằng tên và xưng tôi. không xưng hô bằng anh em. Chuyến công tác nầy tôi không thấy mệt mỏi mặc dầu có nhiều điều phải suy nghĩ và nhiều việc phải làm. Một sự mâu thuẩn phát sinh, một mặt tôi mong đến ngày ghé Rạch Giá để đưa Quyên vào bờ, một mặt lại muốn cái thời gian bồng bềnh trên sóng nước cứ kéo dài mãi. Tôi cảm nhận được ý nghĩ của Quyên cũng không khác mặc dầu Quyên không nói ra.
Ghé hòn Rùa, hòn Tre Rạch Giá
Một ngày vào trung tuần tháng 6 năm 1970, tàu tôi ghé hòn Rùa tức hòn Tre Rạch Giá.
Mặt trời xuống thấp dần và sắp chạm mặt biển, nhân viên trên tàu hạ thủy chiếc ghe để tôi cùng Quyên và người hạ sĩ quan Mỹ vào đảo.
Chiếc ghe bị phơi nắng mầy ngày nên hở các đường kẽ. Thả xuống nước ghe vẫn nổi, nhưng khi chúng tôi xuống ghe, nước theo các kẽ hở vào rất nhanh, làm chìm ghe. Chúng tôi bị ướt gần nửa người. Trung sĩ An, thuyền phó lái tàu vào gần để cứu nguy. Ham vui nên tiếp tục kéo ghe vào bờ. Lên quán uống bia, trung sĩ Mỹ và tôi gọi bia uống. Quyên ngồi bên tôi nói chuyện chứ không uống gì. Tôi không biết là vì Quyên không muốn uống hay vì lo sợ trong nước uống có pha thuốc kích thích. Tôi chỉ mời Quyên chứ không ép. Tôi uống gần hết hai chai 33 thì chị chủ quán đến nói với tôi và cố tình cho Quyên nghe luôn. Chị bảo.
Em có dành sẳn cho Trung úy cáí phòng, vừa thay drap mới, Trung úy cứ tự nhiên nghe..
Tôi cười và cám ơn chị chủ quán, Thật sự, tôi chưa cần đến cái phòng nầy. Sau gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi rời quán nước, xuống bến, xuống ghe để ra tàu. Cái ghe ngấm nước lâu đủ để các kẽ hở khít lại và chúng tôi có thể sử dụng được. Xuống bến chúng tôi phát hiện rằng tất cả vật dụng như nồi, chảo, dao mất hết. Tôi nghĩ bụng, cái người ta tưởng là sẽ mất đến nơi lại không mất, những cái không ngờ bi mất thì mất hết.
Tàu vào Rạch Giá để nhân viên đi chợ.
Tàu tôi ghé Rạch Giá để cho nhân viên nhà bếp mua thêm thức ăn. Nhân dịp nầy tôi đưa Quyên vào bờ. Lên bờ, tôi đưa Quyên đi một vòng chợ Rạch Gía, ghé quán kem uống nước. Vừa uống nước vừa nói chuyện. Quyên gọi một ly sinh tố, Quyên vẫn nói chuyện nhưng kém vui. Tôi bảo Quyên sau khi uống nước xong cùng ra chợ để tôi mua lại mấy thứ bị mất ở hòn Tre. Quyên không chịu, nói rằng.
Chú có làm mất đâu mà chú phải đền mà chú có mua cháu cũng không nhận.
Đổi cách xưng hô.
Bổng dưng Quyên đổi cách xưng hô và gọi tôi bằng chú. Trong gần một tuần qua, Quyên chỉ gọi tôi là Trung úy. Tôi thấy cách gọi mới nầy cũng hay hay nên không phản đối mà còn tỏ ra đồng tình.
Tôi bảo, thôi cũng được, rồi đề nghị tiếp. Nếu cháu không nhận mấy thứ đồ đạc kia, thì chú tặng cháu một chiếc áo dài. Quyên bằng lòng. Chúng tôi ra khỏi tiệm kem, đến một cửa hàng vải. Bước vào, tôi để Quyên tự ý lưa vải và màu mà Quyên thích. Quyên chọn vải màu xanh da trời nhạt. Tôi hỏi Quyên màu xanh là màu cháu thích nhất phải không? Quyên trả lời
Màu cháu thích nhất là màu hồng.
Vậy sao cháu không chọn màu hồng? Tôi hỏi.
Quyên giải thích.
Màu xanh là màu hy vọng.
Tôi nhìn Quyên, mỉm cười và không nói gì nữa.
Chúng tôi bước ra khỏi tiệm vải, đi về hướng bờ biển.
Đứng ở bến cá, bên bờ đối diện với đình Nguyễn Trung Trưc, hồi lâu, tôi từ giã Quyên và chúc Quyên gặp nhiều may mắn, trở về bình yên.
Cháu không biết nói gì ngoài hai tiếng cám ơn, nhưng sao cháu thấy buồn quá, cháu cảm thấy như mất mát cái gì mà không sao bù đắp được. Quyên nói
Còn tôi, tôi không biết những ngày vừa qua mình đã nghĩ và làm đúng hay sai mà nghe trong câu nói của Quyên dường như ẩn chứa một chút lưu luyến vấn vương lẫn chút thương tiếc và hờn trách. Cùng với câu nói nầy, vẻ mặt của Quyên cũng phản phất nét buồn, làm cho sự tươi mát của màu thiên thanh, màu xanh của hy vọng mà Quyên mới vừa giải thích cho tôi cách đây vài chục phút, phai đi ít nhiều.
Chúng tôi chia tay.
Tôi nhìn qua câu lạc bộ Thuyền ra cửa biển, phía bờ bên kia sông, nơi tàu của tôi đang đậu, nghe lòng mình buồn mênh mang.
Đầu mùa Xuân 2009.
TVD-Wa
No comments:
Post a Comment