Tuesday, September 14, 2010

 Gió  Mùa  Đông  Bắc  thổi  trong    ức. 
Gió mùa đông bắc, bốn tiếng nghe quen đối với người thủy thủ. Dù ở bất kỳ cương vị nào trên một chiến hạm thì bốn tiếng gió mùa đông bắc cũng không xa lạ gì đối với họ. Nước Việt Nam ở bắc bán cầu, chịu ảnh hưởng Gió Mùa nên vào  tháng Mười hoặc sớm hơn là vào cuối tháng Chín là bắt đầu giao mùa. Vì đang lúc giao mùa nên gió mùa  tây nam còn thổi mạnh ở phía Nam và Tây nam của nước Viêt Nam vào những ngày nầy
  Sĩ quan Hải quân mới ra trường nói riêng và thủy thủ nói chung nếu được thuyên chuyển xuống chiến hạm vào mùa gió đông bắc chắc khó quên cái kinh nghiệm về sóng gió trong những chuyến công tác đầu tiên nhất là trên các chiến hạm tuần duyên hay tuần dương.
  Đăc biệt đối với những người yếu sóng .
  Mùa gió mùa đông bắc đầu tiên khó quên đối với các khóa sinh  sinh viên SQHQ/K.16/NT. là gió mùa đông bắc năm 1965.
 Tháng 12 năm 1965, các khóa sinh trúng tuyển ở phía nam, quá giang chiến ham HQ 451 do HQ Đại úy Mai Mộng Liễn làm Hạm Trưởng để nhập học tại TTHL/HQ/NT. Đây là chuyến hải hành đầu tiên mà các chàng trai đang ôm mộng hải hồ bắt đầu làm quen với  biển. Nhiều người bị say sóng; kẻ ít người nhiều kể cả người viết mặc dầu đã có thời gian đi biển trước đó. Trong bọn chúng tôi có  vài người không biết say sóng là gì.
Như Vũ Ngọc Thọ, Đặng Văn Vững và vài người nữa.   
 Gió mùa đông bắc 1967-1968.
 Sau gần hai năm mài kiếm, nghe sóng vổ bên bờ đại dương, các chàng trai áo trắng đã thực sự mang lon đội mũ ( không có hia và mão ) rời khỏi quân trường để đến các đơn vị khác nhau bắt đầu phục vụ. Kẻ ở đơn vị bờ người trên chiến đĩnh, người xuống chiến
 hạm. Khoảng 1/3 quân số của 130 sĩ quan mới tốt nghiệp chuẩn bị đi thực tập trên các chiến hạm Mỹ thuộc Hạm đội 7.
 Cùng với sĩ quan thủ khoa, HQ Thiếu úy Lý Ngọc Ẩn, chúng tôi đáp  chiếc Boeing 727 của hảng hàng không PANAM sang Nhật để xuống chiến hạm Mỹ đã được chỉ định. Nửa tháng sau, chiến hạm rời bến, đến công tác trong hải phân Việt Nam. Mãn công tác giai đoạn đầu, chiến hạm hướng về phía Nam để vượt xich đạo. Ở đây chiến hạm tổ chức một party đặc biệt trong đó các sĩ quan phục vụ để các nhân viên vui chơi. Chiến ham ghé Singapore để nghỉ bến Chúng tôi có dịp thăm viếng Singapore tong mấy ngày. Trở lại vùng công tác một lần nũa trong hải phân Việt Nam. Thời gian thực tập đã mãn, chúng tôi được đưa đến vịnh Subic, Philippines để về Việt Nam. Có dịp ghé qua vài nơi tôi có nhận xét rằng đường phố Nhật sạch sẻ hơn hết kể cả nếu đem so sánh với đường phố của Mỹ. Các em học sinh tiểu học của Nhật đã có tinh thần vệ sinh chung rất cao. Thấy rác là các em liền nhặt bỏ vào giỏ máng ở  thân cây dọc đường. Đến giờ thể dục buổi sáng, khi nghe nhạc  hiệu, mọi người kể cả những người đi xe hơi đều dừng lại hai bên  đường để tập thể dục theo nhịp điệu đươc đài truyền thanh phát  đi Tôi chưa thấy ở đâu có được cái tinh thần thể dục cao như thế.
 Văn hóa giao tế của người Nhật rất đáng để ta lưu ý. Tôi gặp một cô gái Nhật đang đi trên đượng trong bộ kimono đẹp đẽ, tôi xin chụp một tấm hình của cô ta để kỷ niệm. Cô vui vẻ nhận lời và bước tới bên một cây cảnh bên đường để tôi chụp hình. Thưở ấy nếu với một phụ nữ Việt Nam xa lạ như vây chắc chắn tôi bị mắng hoặc sỉ vả.
 Người đi bộ băng qua đường cũng khác. Họ đi trên những chiếc cầu bắc ngang trên đường dành cho người đi bộ mà không băng qua đường dành cho xe hơi. Cái nầy cũng khác ở Việt Nam. Tôi nhớ trước năm 1975, Sài Gòn có hai cây cầu loại nầy ở khu vực bung binh Sài Gòn, không ai thèm sử dụng. Về sau phải gở bỏ hai chiếc cầu loại nầy.
Tôi thấy ở Bà Chiểu có cây cầu tương tự, nhưng người đi bộ vẫn thích băng qua đường dành cho xe hơi. Cách đây mấy năm một ký giả Úc sang Việt Nam, khi trở về Úc viết rằng:Ở Việt Nam khi muốn băng qua đường phải nhắm mắt lại. Mở mắt thấy quá nhiều   xe không dám đi Nhận xét nầy quả không sai chút nào.
 Sau khi thực tập trên chiến hạm Hoa Kỳ thuộc Hạm đội 7, trở về tôi được thuyên chuyển xuống Hộ Tống Hạm Vân Đồn, HQ 06. Các ban cùng khóa gồm HQ Thiếu úy Trịnh Văn Trỵ, HQ Thiếu úy Hồ Ngọc Văn, HQ Thiếu úy Hà Xuân Thụ, HQ Thiếu úy ck  Phạm Văn Lý cũng được thuyên chuyển xuống chiến hạm nầy. Về sau còn có thêm HQ Thiếu úy Ngô ĐứcTựu và hai sĩ quan cấp Chuẩn úy nữa. Hạm trưởng là HQ Đại úyTTH. Ham phó là HQ Trung úy Nguyễn Văn Minh và sĩ quan đệ tam là HQ Trung úy Lê Văn Thưởng. Chiến hạm nhỏ nhưng sĩ quan quá đông.
 Đến chiến hạm một thời gian những sĩ quan ngành chỉ huy chúng  tôi được chỉ định làm sĩ quan trưởng phiên hải hành. Công việc diễn tiến tốt đẹp. Nhưng trong sinh hoạt không mấy thỏai mái. Vị  Hạm trưởng chăm sóc hơi kỷ nên đôi khi không khí cũng trở nên ngột ngạc.
 Niềm vui chúng tôi có được trên chiến hạm HQ 06 do các em gái hậu phương đem lại. Họ đọc cho chúng tôi nghe những vần thơ học trò và kể cho chúng tôi nghe những việc từ thiện họ.làm. Nhờ vây mà đầu óc chúng tôi bớt căn thẳng, tinh thần thoải mái hơn. 
Thời gian trôi qua, vị hạm trưởng thuyên chuyển đi đơn vị khác
Vị Hạm trưởng khác đến thay thế. HQ Thiếu tá Phan Tấn Hưng Vị Hạm trưởng nầy nổi tiếng hay sử dụng cú đấm. Lúc đầu tôi rất lo ngại và rât dè dặt, thận trọng trong mọi chuyện. Trợt vỏ dưa thấy vỏ dừa cũng sợ. Sự thật không như tôi tưởng. Ông là người rất điệu nghệ, không bao giờ hiếp đáp cấp dưới,  không dua nịnh cấp trên. Khi cần áp dụng kỷ luật thì theo đúng quân kỷ chứ không tùy tiện. Tôi càng kính phục ông hơn khi được ông đối xử thật rộng lượng với lòng tha thứ hiếm có.
 Vào khoảng gần cuối năm 1968, chiến hạm HQ 06 tuần tiễu vùng vịnh Thái Lan, bảo vệ và yểm trợ chi khu Phú Quốc ở bờ phía tây hải đảo Phú Quốc.
 Hôm ấy một ngày trời quang mây tạnh, biển êm, mặt nước chỉ lăn tăn sóng nhỏ, Thả trôi tàu để quan sát vùng bờ biển Dương Tơ Phú Quốc Tôi lên đài chỉ huy để thay cho Hạm phó Minh xuống ăn cơm. Hạm  trưởng đang có khách, đúng hơn là đang cùng ông Quận trưởng Quận Phú Quốc và hai cố vấn Mỹ họp hành quân. Chẳng may vì sơ ý nên tôi đã gây nên việc đáng tiếc. Gió thổi nhẹ đưa chiến hạm vào gần bờ. Tôi ra lệnh cho lùi tàu ra xa hơn. Tức thì chân vịt tàu quấn sợ dây buộc chiếc xuồng máy ở phía sau, làm cho chiếc xuồng lật úp. Một khẩu colt 45, một máy ảnh và một tấm bản đồ rơi xuống biển. Hạm trưởng liền mang bình hơi ông đem theo, tra chân nhái vào rồi nhảy ngay xuống biển để tìm kiếm những vật đã mất. Nhưng vì nước quá đục nên việc tìm kiếm không có kết quả.  Hạm trưởng lên chiến hạm, tắm rửa xong, cho gọi tôi. Ông bảo tôi  Hãy quên chuyện vừa xảy ra.  Và ông đã xin lỗi những người có đồ vật bị mất. Ông nói tiếp với tôi rằng Ngày nào còn trên chiến hạm ngày đó còn nhiều khó khăn.  Điều làm tôi ngạc nhiên là ông không phạt tôi ngày nào hết.
 Về sau,  con đường binh nghiệp của vị hạm trưởng nầy gặp nhiều lận đận; nhưng đối với tôi ông là vị Hạm trưởng có lòng bao dung và tha thứ hiếm có mà tôi cần học hỏi theo gương của ông
 Gió mùa đông bắc năm Kỷ Dậu, 1969.
 Cùng với mấy sĩ quan trẻ từ Sài Gòn quá giang chiến ham HQ 07 để đến đơn vị mới ở Phú Quốc. Sáng mồng Một Tết, tay xách quân  trang, chân bước lên cầu tàu trước BTL/HQ-V4DH. mà lòng buồn  mênh mang. Các đơn vị V4DH đang nghỉ Tết. Hàng quán đóng cửa.Thế là các sĩ quan tân đáo đành đói meo. Thấy vậy các đàn anh K15 tiếp tế cho mấy gói mì ăn liền ăn cho đỡ đói. Đã buồn vì Tết phải xa nhà lại lâm vào tình trạng nầy nên càng cảm thấy buồn vô hạn. Bắt đầu từ nay tôi tạm thời xa Ham đội để phục vụ tại Hải Đội 4 Duyên Phòng có căn cứ tạị An Thới,  Phú Quốc.           
Tháng 4 năm 1970 tôi được chỉ định làm thuyền trưởng PCF 3855
 Công tác của chiến đĩnh nầy là tuần tiễu tại các vùng chung quanh hải đảo Phú Quốc, Hà Tiên, Kiên Giang và vùng bờ biển U Minh
 Thời gian nầy tôi có dịp ghé thăm các đảo thuộc quần đảo Les Pirates, quần đảo  Bà Lụa  từ hòn Tre đến hòn Nghệ và hòn Sơn Rái, hòn đảo lớn nhất trong các quần đảo ở đây. Trên hòn đảo lớn nầy có hiệu nước mấm Việt Hương rất nỏi tiếng.Tuy nhiên hòn đảo mà tôi thích là một hòn đảo nhỏ, có hình dáng một con rùa nằm quay đầu về hướng bắc. Đó là hòn Tre Rạch Gía.Tôi có khá nhiều kỷ niệm với hòn đảo nhỏ nầy .
 Nước Việt Nam có nhiều cảnh thiên nhiên đẹp đẽ. Nhưng đôi khi  muốn đến thăm những nơi nầy  dù chỉ một lần cũng không phải dễ dàng.
 Chuyến công tác cuối cùng trên PCF 3855 là tăng phái Năm Căn    .
 Được 2/3 thời gian công tác ở đây, tôi nhận được lệnh của HĐ4DP là sửa chữa chiếc PCF vừa mới từ An Thới đến Năm Căn đã cháy  hết dây điện của hệ thống khởi động. Tôi đã cố gắng sửa được một máy. Thế là hai thủy thủ đoàn hoán đổi cho nhau và tôi đem chiếc PCF hư một máy về An Thới. Tôi được thuyên chuyển lên bờ.
 Chỉ huy trưởng Hải đội, Hải Quân Thiếu tá Nguyễn Quang Tộ chỉ định tôi làm Phân đội trưởng Phân đội 41 PCF, kiêm nhiệm sĩ quan Kỹ thuật của Hải đội. Vào thời điểm nầy Hải đội 4 Duyên Phòng có 24 PCF gồm mark 1 và mark 2.  Cách không lâu sau đó, vị Chỉ huy  trưởng kế nhiệm, Hải Quân Trung tá Vũ Trọng Đệ chỉ định tôi kiêm  nhiệm chức vụ Phân đội trưởng Phân đội 42 WPB. Hải đội có 6 chiến đỉnh loại nầy. Sĩ quan của Hải đội lên đến 115 người.
 Cơn bão Hester của mùa gió đông bắc 1972 rât mạnh làm hư hại  nhiều tuần duyên đỉnh WPB của V1DH  Bốn chiếc WPB của Hải Đội 4 được chuyển đến HĐ1DP, Đà Nẵng.
 Hai năm sau, ngày 19 tháng 01 năm 1974, một biến cố lịch sử diễn ra. Đó là cuộc hai chiến Hoàng Sa giữa Hải Quân của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Trung Cộng với tương quan lực lượng không cân xứng.
Tôi không đi sâu vào chi tiết của trận chiến mà chỉ muốn nhắc đến lòng dũng cảm, bất khuất, sự chiến đấu kiên cường của các chiến  sĩ Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã chiến đấu can trường và đã anh dũng hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ nước Việt Nam. Những vị anh hùng dân tộc, đứng đầu là HQ Trung Tá Ngụy Văn Thà, Hạm Trưởng, HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí, hạm phó và thủy thủ đoàn của Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10.
 Đây là ngọn gió mùa đông bắc lạnh buốt nhất đã thổi xoáy vào tim óc và xương thịt của các người con yêu dấu của Tổ Quốc, của các chiến sĩ Hải Quân Quân Lực Viêt Nam Cộng Hòa, của các sĩ quan và thủy thủ đoàn của HQ 10, của các chiến hạm tham chiến và thân nhân của các vị anh hùng nầy
 Sau ba năm phục vụ tại Hai Đội 4 Duyên Phòng, tôi được thuyên  chuyển trở về Hạm Đội, làm Hạm phó HQ 228.
 Đến Phú Quốc với một túi quân trang nhỏ, khi đi có cả vợ và con gái đầu lòng
 Ở HQ 228 mấy tháng tôi lại được thuyên chuyển đến HQ O7. với  chức vụ Hạm phó.  Hạm trưởng là HQ Trung tá Huỳnh Hữu Cầu  Ông rất điềm đạm nói năng rành mạch cư xử nhã nhặn.  Về chuyên môn ông xứng đáng bậc thầy. Ông giúp tôi ôn lại bài học hải hành thiên văn, chuẩn bị cho HQ 07 vào đại kỳ ở Subic Bay tháng 07 năm 1973 .
 Sau khi sửa chữa, HQ 07 về Sài Gòn tháng 10 cùng năm.Vị Hạm trưởng đáng kính nầy thuyên chuyển đi làm Hạm trưởng HQ 6.Tôi ở lại và đến 01-12-1973 được thăng một cấp.
Tháng 06 năm 1974, tôi rời HQ 07 để học lớp Hạm trưởng chuẩn  nhiệm, lớp học đầu tiên loại nầy. Kế đến tôi nhận Tuần Duyên Hạm Nam Du, HQ 607 để rồi từ bỏ nó với nhiều lưu luyến và không bao giờ gặp lại. Mọi chuyện đã đi vào dĩ vãng nhưng mỗi khi nhớ lại tôi cứ ngỡ như mới vừa hôm qua. Có điều lớp lang thứ tự thì đôi khi bị lẫn lộn.
Tôi mượn hai câu thơ trong bài “ Le Vin Perdu “ của thi sĩ Pháp Valéry để diễn đạt cái tình tự nầy.
                  J’ai, quelque jour, dans l’Océan,
                  Mais je ne sais plus sous quels cieux.
 Tạm dịch là:
                  Một ngày ở giữa Đại Dương,
                  Nhưng tôi không nhớ là phương trời nào
  Bờ biển Việt Nam dài với nhiều danh lam thắng cảnh, núi non hùng vĩ, eo vịnh và mũi đất. Chúng đã trở nên quen thuộc đối với người  thủy thủ hải hành cận duyên.từ phía Nam ra Bắc. Từ mũi Kê Gà  Phan Thiết đến mũi Kê Gà Tuy Hòa, (Varella) với chiến tích Vũng Rô, qua mũi Batangan Quảng Ngãi, vào sông Hàn, uống nước suối Tiên Sa trong và mát,  lên đến cấp Chân Mây với đèo Hải Vân, một thắng cảnh nổi tiếng nhưng đầy hiểm trở.
 Mỗi khi chiến hạm tuần tiễu vùng biển nầy tôi không sao quên được biến cố Tết Mậu Thân ở Huế. Còn mũi Batangan thì chưa phai mờ hình ảnh của một làng Mỹ Lai sau biến cố Huế không lâu.Ngọn gió mùa đông bắc nầy đã và sẽ tê buốt lòng người không biết đến bao giờ mới hết.
.Ngọn gió mùa đông bắc nào đã ru hồn những chàng trai yêu biển cả vào mộng Hải Hồ. Ngọn gió đông bắc nào khiến họ phải bỏ ăn bỏ uống vẫy vùng trên biển giữa ba đào, bão táp. Ngọn gió mùa đông bắc nào đã tàn lụi, mang theo sự sụp đỗ của cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân miền Nam để bảo vệ lý tưởng Tự Do cho dân tộc
 Ngọn gió mùa đông bắc nào tiếp tục thổi làm tê buốt những tấm thân gầy gò đói khát của những người tù lương tâm nơi rừng thiêng nước độc. Ngọn gió mùa đông bắc nào làm cho biển nổi cơn thạnh nộ, làm chìm đấm không biết bao nhiêu ghe thuyền chở người vượt biên để tìm Tự Do mà họ đã bị cướp mất khi đât nước Việt Nam bị nhuộm mầu máu kể từ ngày 30-4-1975.
Tháng Giêng năm Kỷ Sửu.                          
      Trần Văn Dùng.

.
                      

               
              .
                                                                
 
          

.
                      

               
              .
                                                               
          
                   


No comments:

Post a Comment