Friday, September 3, 2010

Cái đồng hồ.
Có lẽ, trong chúng ta, không ai là người không có đồng hồ. Đồng hồ có nhiều thứ khác nhau, muôn hình, muôn vẻ,.
Đồng hồ đeo tay, đồng hồ bỏ túi, đồng hồ đeo cổ, đồng hồ treo tường, đồng hồ thể thao. đồng hồ để bàn, đồng hồ báo thức.
Về cấu tạo, thì có đồng hồ lên dây thiều ( cót ) đồng hồ tự động, đồng hồ điện, đồng hồ điện tử, quartz, digital vân vân. Tiếng Anh có nhiều từ để chỉ đồng hồ như: Clock, Watch, Timekeeper, Timepiece, Chronometer. Chronograph.
Chữ Clock là tên gọi cái đồng hồ hồi mới được phát minh vào thế kỷ XIV, nó không có nghĩa như ta hiểu hiện nay. Bấy giờ nó có nghĩa là cái chuông.
Tiếng Anh như thế, còn tiếng Việt thì sao?
Ta gọi tất cả những thứ được liêt kê ở trên là đồng hồ. Để phân biệt, ta thêm công dụng của từng loại vào chữ đồng hồ là xong.
Hai chữ đồng hồ được hiểu như sau.
Đông Hồ nghĩa là cái hồ bằng đồng. Ngày xưa, cái hồ bằng đồng nầy dùng để chứa nước. Trên mặt nước trong hồ, người ta thả nổi một cái gáo có dùi lổ nhỏ để nước chui vào được. Nước vô đầy cái gáo làm nó chìm xuống rồi va vào đáy hồ tạo tiếng động báo giờ, một báo hiệu có công dụng như một loại chuông đồng hồ ngày nay. Loại đồng hồ nầy chỉ được dùng nơi cung đình chứ không phổ biến đến dân gian. Như vậy hai chữ đồng hồ ngày nay không còn hiểu theo nghĩa đen lúc ban đầu nữa. Nếu đem so sánh thì các từ Clock trong tiếng Anh và Đồng hồ trong tiếng Việt có lịch sử về tên gọi của chúng giống nhau. Cái thứ nhất được gọi là cái chuông, cái thứ hai được gọi là cái hồ. Ngày nay, cả hai đều có chung cái công dụng là chỉ giờ, bất kể người ta muốn gọi chúng là gì đi nữa.
Khi chưa phát minh ra đồng hồ, ở tây phương, người ta dùng cây đèn cầy ( nến ) để đo thời gian. Việt Nam mình thường dùng cây nhang với mục đích tương tự. Trong cuộc thi đua ăn nhanh hoăc uống nhanh, người ta thường áp dụng cách nầy. Thi dụ, tàn một cây nhang, người dự cuộc thi phải uống hết nửa kết bia hay ăn một trái dưa hấu chẳng hạn.
Người ta chế ra các dụng cụ để đo giờ ngày xưa như sau.
Sundial.
Cái đồng hồ cổ xưa nầy gồm một mặt phẳng hình tròn như cái đĩa, trên đó có khắc những vạch để chỉ giờ. Một cái que nhỏ, thẳng hoặc một miếng như lá cờ đuôi nheo được cắm trên mặt phẳng nầy. Tấm mặt phẳng được đăt theo hướng bắc-nam thật. Mặt trời di chuyển trong ngày sẽ in bóng cái que hay lá cờ kia trùng vào các vạch trên mặt phẳng, chỉ ra các giờ tương ứng trong ngày, Cái bất tiện của loại đồng hồ nầy là hoàn toàn phụ thuộc vào mặt trời nên không dùng được ban đêm.
Đồng hồ Nước
Người ta dùng hai cái bình chứa nước. Bình đầy nước để ở vị thế cao hơn bình hứng nước. Hai bình nầy thông nhau bằng một ống dẩn nhỏ. Nước chui qua ống và mực nước trong bình thấp nầy dâng cao dần, qua những dấu khắc sẳn trên thành bình cho cái ý niệm về giờ như cái đồng hồ Sundial ở trên. Đồng hồ nước có ưu điểm là dùng được cả ngày lẫn đêm.
Cái khuyết điểm chung của cả hai loại đồng hồ nầy là không thể chỉ giờ chính xác.
Có lẽ dùng chữ “ khắc “ như ta vẫn dùng khi nói đêm 5 canh ngày 6 khắc để chỉ giờ của cả hai loại đồng hồ kể trên là hợp nhất
Đồng hồ báo thức.
Ban đầu, người ta nghĩ ra cách chế tạo cái đồng hồ báo thức bằng cách ghim một cây đinh vào thân môt cây đèn cầy ( nến ). Trước khi đi ngủ đốt nến lên. Khi ngọn lửa cháy đến chỗ cây đinh, sáp chảy ra, làm cây đinh rớt xuống mặt của cái đĩa hứng bên dưới tạo nên tiếng động, đánh thức người đang nằm ngủ gần đó.
Chúng ta may mắn hơn tổ tiên của chúng ta trong những thời đại trước rất nhiều nhờ khoa học, kỹ thuật tiến bộ vượt bực. Có thể nói ngày nay chúng ta không thiếu gì cả.
Mãi đến thế kỷ thứ XIV người ta mới phát minh ra đồng hồ.
Đồng hồ loại nầy dùng để chỉ giờ, đồng thời còn là món trang sức của cả nam giới lẫn nữ giới. Đồng hồ có nhiều hiệu, nhiều cỡ, nhiều kiểu khác nhau. Nếu nói đồng hồ có thiên hình vạn trạng chắc cũng không sai bao nhiêu. Hiệu thì có Rolex, Omega, Seiko, Longines, Bulova. vân vân. Cỡ thì có cái bằng cái nút áo, trọng lượng không đáng kể, cỡ lớn thì năng đến 5 tấn nếu kể luôn cái chuông và các phần phụ thuôc thì nặng hơn 20 tấn.
Hình dáng của đồng hồ cũng rất đa dạng, từ hình tròn, hình vuông, bầu dục, hình chữ nhật, hình trái tim, hình thùng tô nô..Màu sắc rất phong phú, trắng, đen, xanh, đỏ, vàng. Dây đeo cũng đủ kiểu đủ hiệu không thiếu gì. Về giá cả thì từ vài đô đến vài chục ngàn đô.
Các nước sản xuất đồng hồ nổi tiếng gồm Thụy Sỉ, Đức, Ý, Pháp, Mỹ, Nhật…
Về độ chính xác thi cũng thiên biến vạn hóa.
Đồng hồ rẻ tiền mua ở Walmart với giá chưa tới 10 đô không thể có được độ chính xác mong muốn. Cho đến hiện nay đồng hồ hiệu Omega được công nhận là chính xác nhất. Tại thế vận hội mùa Đông, Olympics 2006 và thế vận hội mùa hè, Olympics 2008,.đồng hồ Omega được xử dụng trong các cuộc tranh tài. Đương kim vô địch môn bơi lội thế giới , Micheal Phelps đeo chiếc đồng hồ Omega, Seamaster Planet Ocean. Phi hành gia Buzz Aldrin của A pollo 11, đã đeo chiếc đồng hồ Omega, hiệu Speedmaster Professional Chronogaph. Đây là chiếc đồng hồ Omega đầu tiên trên cung trăng vào ngày 20 tháng 7 năm 1969.
Một loại đồng hồ có độ chĩnh xác khác mà người sĩ quan Hải Quân chỉ huy nào cũng phải biết. Đó là Chronometer dùng trong hải hành thiên văn . Chiếc đồng hồ nầy có độ chính xác với sai số rất nhỏ. Để điều chỉnh, người ta phải đối chiếu với giờ GMT được loan báo hằng ngày qua hệ thống vô tuyến điện.
Tuy nhiên đến đầu thập niên 70, hệ thống satellite trợ giúp cho việc hải hành viễn dương nên Chronometer chỉ còn được dùng phòng hờ trên chiến hạm, tàu lớn hoặc trang bị cho các thuyền buồm không được trang bi đầy đủ. Ngày nay, kỹ thuật phát triễn rất nhanh, người lái xe hơi cũng có hoa tiêu ( GPS ) chứ đừng nói là tàu bè hay máy bay. Thật khỏe re.,
Chiếc đồng hồ, “ Clock “ nổi tiếng nhất thế giới hiện nay.
Chúng ta chắc không ai xa lạ gì với tiếng chuông của chiếc đông hồ khổng lồ trước tru sở quốc hôi Anh, Palace of Westminster hay Westminster Palace ở London, thủ đô nước Anh, qua đài BBC.
Cái đồng hồ nầy nặng 5 tấn với cái chuông báo giờ nặng sơ sơ 13,5 tấn .Kim chỉ giờ dài 9 feet, kim chỉ phút dài 14 feet, chữ số la mã cao 2 feet. Nhiều người cho rằng Big Ben, tên đặt cho cái chuông nhằm vinh danh Sir Bẹnjamin Hall, viên chức phụ trách công trình của cái đồng hồ vĩ đại nầy. Vào lúc quốc hội Anh nhóm hop, đèn được thắp sáng trên mặt đồng hồ và 4 mặt của đồng hồ được chiếu sáng vào ban đêm. Cái đồng hồ lừng danh nhất thế giới nầy đổ tiếng chuông đầu tiên vào ngày 31-5-1859. Và năm nay, 2009, người ta kỷ niệm lần thứ 150, ngày ra đời của chiếc đồng hồ độc đáo nầy.
Nói Đông , nói Tây, chuyện xưa chuyện nay về đồng hồ đủ thứ, đủ hiệu, quan trọng thì có quan trọng nhưng chưa thiết thân với chúng ta. Tôi muốn nói đến cái đồng hồ trong đời sống của chúng ta, người Việt Nam. Người Việt rất thích đồng hồ, đeo đồng hồ để diên chứ không hẳn là để xem giờ hoặc có xem cũng ít tôn trọng giờ giấc. Thường thì trể giờ mặc dầu trên tay có cái đồng hồ xin như Rolex, Omega, Longines hay Seiko 5.
Năm 1931, cụ Phan Khôi có một bài báo với tựa đề “ Cái đồng hồ của người Việt Nam “ đăng trên tập chí Phụ Nữ Tân Văn, Sài Gòn ngày 29 tháng 8 năm 1931.
Dưới đây là trích dẫn một đoạn ngắn. Trích:
"Một buổi nhóm họp hay một bữa tiệc, thường thường có nhiều người lỗi giờ đã định. Thấy ai cũng than van rằng công việc gì đó bị treo trễ, nhưng ai hề chịu đi cho đúng giờ. Bực mình nhứt là khi có ba bốn người hẹn nhau bàn việc chi, cứ làm miếng giã gạo, hễ có người nầy thì không người kia, hễ có người kia lại thiếu người nọ, thét rồi việc bàn tính đó cũng theo thì giờ mà đi mất." Hết trích. 
Gần 80 năm trôi qua, thời gian dài hơn tuổi đời trung bình của con người. Đồng hồ thay đổi muôn hình vạn trạng, nhưng “ cái đồng hồ của người Việt Nam “ mà cụ Phan Khôi nói đến cũng không thay đổi bao nhiêu. Có thay đổi chăng chỉ là cách nói mà thôi. Đồng hồ cao su hay đồng hồ dây thun thay cho đồng hồ kiểu miếng giã gao.
Cái tính hay có thể gọi là cáí tật trễ giờ của người Việt Nam kể cả người Mỹ gốc Việt ngày nay cũng chẳng khác bao nhiêu so với tiền nhân sống trước ta hơn 3/4 thế kỷ.
 Người Mỹ tiết kiệm từng giây trong công việc, làm một cái bánh hamburger không được quá một phút. Người Nhật cũng rất tiết kiệm thì giờ. Tôi đã mục kích, những công nhân Nhật trên đường đến chỗ làm việc, họ chạy chứ không đi như người mình và người dân của nhiều nước khác. Hình ảnh các cô gái Nhật tha thướt trong chiếc áo kimono thật đẹp chỉ là thiểu số, còn đại đa số phụ nữ Nhật có đôi chân thật rắn chắc, bắp chân nở to do họ chay quá nhiều kể cả khi lên cầu thang.
Số ngày và giờ còn lại của mỗi chúng ta rất quý báu. Vây hãy nên trân quý chúng.
Thì giờ đã trôi qua không bao giờ lấy lại được.
Mùa Xuân 2009
TVD-Wa..

No comments:

Post a Comment