Monday, September 13, 2010



Tôi đọc DỐC BIỂN.
( trích trong Đặc San Lướt Sóng số 67.)
Dốc Biển là tập hồi ký của Tam Giang Hoàng Đình Báu. Sách dầy 350 trang, giấy láng, khổ nhỏ, gồm 11 chương. Hồi ký chia thành hai phần rõ rệt. Phần đầu viết về cuộc đời hào hùng và đầy thơ mộng, mộng hải hồ, mộng công danh, sự nghiệp, mộng yêu đương lãng mạn.
Phần sau của cuốn sách, tức 3 chương cuối, được viết bằng chính xương máu, nước mắt và tủi nhục của bản thân và gia đình, vợ và các con của tác giả. Một khúc quanh của cuộc đời đầy trớ trêu, nghiệt ngã.
Giấc mộng hải hồ
Lớn lên giữa thời binh lửa như bao nhiêu tuổi trẻ khác, lại ôm ấp mộng hải hồ, chàng thanh niên Hoàng Đình Báu đã phải xếp bút nghiêng theo việc kiếm cung, tình nguyện gia nhập Hải Quân.
Ông theo học và tốt nghiệp k11/ SQHQ/NT. Cũng như hầu hết các sĩ quan Hải Quân khác, ông bắt đầu con đường hải nghiệp trên các chiến hạm và các đơn vị khác của Hải Quân. Mỗi đơn vị ông phục vu, từ chiến hạm, duyên đoàn, đài kiểm báo, đều để lại trong ông những dấu ấn đậm nét. Đơn vị gắn liền với đời ông nhiều hơn cả, phải nói đến các chiến hạm, từ khi thực tập hải nghiệp đến khi làm Hạm trưởng mà cuối cùng là Hạm trưởng của hộ tống hạm Kỳ Hòa, HQ 09.
Nhưng hình ảnh không bao giờ mờ nhạt chính là con tàu mang số hiệu HQ 404 chuyên chở đầy ấp kỷ niệm, nhớ thương với mối tình thơ ngây của cô nữ sinh Phan Chu Trinh bé nhỏ, tên Uyên. Tương phản với hình ảnh nầy là cảnh thảm sát vô cùng dã man do bọn công an Cộng sản gây ra tại cầu chư Y ,ngày 7 tháng 5 năm 1983, khiến vợ và 4 trong 5 đứa con của ông, chết vô cùng thê thảm cùng với chuổi ngày, ông bị tù đày, khổ cực trong các trại giam, từ Nam ra Bắc rồi Bắc vô Nam, trước sau trên mười cuốn lịch.
Tôi cảm thấy như có duyên với tập hồi ký Dốc Biển, một phản ảnh trung thực và đầy đủ cuộc đời vinh nhục của một sĩ quan Hải Quân, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.
Anh Trịnh Xuân Tụng, một người bạn ở nam Cali, gửi biếu tôi tập hồi ký nầy gần hai tuần lễ trước khi cuốn sách được chính thức ra mắt trong một buổi lễ long trọng, tại thủ đô của người Việt tỵ nạn ở Cali, một nơi cách xa tôi hằng ngàn dặm.
Tối thứ bảy, 28 tháng 3 năm 2009, lúc tôi mới vừa đọc xong cuốn hồi ký Dốc Biển, chừng 15 hay 20 mươi phút thì anh Tụng gọi và cho biết về buổi lễ ra mắt cuốn sách.
Anh bạn tôi là một người ít khi khen ai để lấy lòng. Nhưng anh rất gần gũi với cộng đồng của người Việt tỵ nạn. Hầu như, không có sinh hoạt quan trọng nào của người Việt ở quận Cam mà không có mặt của anh.
Trong buổi lễ ra mắt cuốn hồi ký Dốc Biển, anh đã hết lời khen ngợi người MC của chương trình. Ông nầy cũng là sĩ quan K11/SQHQ/NT, bạn cùng khóa với tác giả của cuốn sách được giới thiệu. Nhân dịp nầy, anh Tụng cũng gặp gỡ nhiều vị, trước kia, từng giữ các chức vụ quan trọng trong Hải Quân, QĐVNCH. Đặc biệt, còn có sự hiện diện của các cựu Hạm trưởng của hộ tống hạm Kỳ Hòa, HQ 09. mà người Hạm trưởng đầu tiên là cựu HQ Đại úy Nguyễn Xuân Sơn, tức cựu Đại tá Tư Lệnh Hạm đội đến ngày cận 30/4/75.


Đọc Dốc Biển, tôi tìm gặp lại chính mình của những ngày tươi đẹp, đầy ước mơ với mộng hải hồ, ước vọng hải nghiệp, mơ ngày chiến thắng kẻ thù Cộng sản để bảo vệ nền Độc lâp, Tư do của Việt Nam mến yêu. Những hàng chữ Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm, lại hiện ra trước mắt tôi.
Những chuyến hải hành đầy khó khăn, mệt nhọc trong những ngày biển động mạnh, công tác dài hạng trên biển, xa nhà, xa người thân, đã rèn luyện ý chí, sức chịu đựng và quan trọng hơn là kinh nghiệm về lãnh đạo chỉ huy đơn vị chiến hạm của người sĩ quan Hải Quân, QĐVNCH.
Con tàu dể gây sự chú ý của nhiều người, bộ quân phục mầu trắng của lính biển cũng gây được nhiều thiện cảm đáng kể. Nhiều ngươi yêu thích Hải Quân chỉ vì bộ quân phục màu trắng.
Nếu có thêm những vệt kim tuyến vàng trên vai và trên mũ kết thì càng hấp dẫn hơn. Người sĩ quan với cấp bậc Trung úy, thường được các cô quan tâm nhiều nhất. Các vị có cấp bậc cao hơn, it được chú ý là vì các cô sợ con tàu đã có bến.
Nhưng đó chỉ là hình thức bề ngoài hiện ra dưới cái nhìn bằng trực giác.
Người chiến sĩ Hải Quân chiến đấu cho lý tưởng, vì Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm. Đó mới là bản chất của cuộc chiến đấu anh dũng của chiến sĩ Hải Quân,QĐVNCH.
Như con tàu rời bến để ra khơi, người chiến sĩ Hải Quân cũng bắt đầu bằng những bước đi chậm chạp, và khi đã được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm trong chiến đấu thì sẳn sàng xông pha giết giặc, ngăn thù, bảo vệ đời sống an bình của người dân Việt Nam.
Trong cuộc chiến đấu can trường, với ý chí hào hùng và lòng yêu quê hương, yêu lý tưởng Tự Do, người lính biển quên mình, chiến đấu ngày đêm để ngăn chặn kẻ thù cộng sản trên biển cả, trong sông rạch của miền Nam, Viêt Nam, quê hương của những người Việt Nam yêu chuộng Tự Do và Hòa Bình.


Con đường đã trải qua, tinh thần phục vụ đất nước, phục vụ Hải Quân của ông Hoàng Đình Báu tiêu biểu cho lý tưởng và chính nghĩa của cuộc chiến đấu đầy gian khổ của toàn thể quân và dân miền Nam, dưới màu cờ quốc gia, cờ vàng ba sọc đỏ thiêng liêng.
Tiếc thay, cuộc chiến đấu anh dũng, cuối cùng đã phải gánh chịu một số phận bi thảm, đầy lòng căm phẩn, tủi nhục ê chề trước sự phản bội của các thế lực trong nước và quốc tế.
Cuộc chiến tương tàn, nồi da xáo thịt kết thúc vào 30 táng 4 năm 1975, đánh dấu một ngày quốc hận đối với toàn thể quân dân miền Nam sống dưới thể chế tự do, chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Lịch sử đã sang trang.
Nửa phần sau của tập hồi ký Dốc Biển gợi lại trong tôi những bước chân đồng hành với tác giả đến những nơi rừng thiêng nước độc qua các trại giam ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa và các nhà tù miền Nam.
Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử sau lời tuyên bố đầu hàng CS vô điều kiện của Tổng thống, tại chức 2 ngày, Dương Văn Minh, sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.
HQ Thiếu tá Hoàng Đình Báu, với niềm đau tột cùng, đã phải rời bỏ con tàu HQ 09 thân yêu để bước vào giai đoạn tối tăm nhất của cuộc đời trong các trại giam tập trung cải tạo cộng sản và cái chết thê thảm của vợ và 4 con ông.
Giai đoạn đen tối của lịch sử kể từ 30 tháng 4 năm 1975, đã đưa hằng mấy trăm ngàn sĩ và viên chúc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào các trại tù cải tạo.
Người tù dưới chế độ cộng sản, bị đối xử không khác con vật.
Việt cộng dồn hằng ngàn tù nhân xuống các ngăn hầm tàu để chở từ Sài Gòn ra Bắc. Nước uống được bơm từ các vòi nước cứu hỏa trên boong tàu xuống các thùng phuy trong hầm tàu nơi tù nhân đang lúc nhúc như giòi. Tàu chở tù cặp bến Hải Phòng. Đoàn tù nhân tập trung trên bãi đất trống, được tiếp đón bởi bầy chó săn, chó săn berger thật, cũng có chó đội lốt người.
Bắt đầu từ giờ phút nầy, nhất cử nhất động đều được dàng dựng và đạo diễn rất chu đáo, chặt chẻ. Trước tiên là đội ngũ y tế, với áo blouse trắng mới tinh, được trang bị ống nghe, thuốc chủng ngừa ( vaccine ). Với thái độ kiêu căng của kẻ chiến thắng, Việt cộng phát loa tuyên bố trước tù nhân rằng:
Các anh đang ở trên miền bắc Xã Hội Chủ Nghĩa tươi đẹp. Việc trước tiên là các anh phải tiêm ngừa, vì các anh đã bị nhiễm các bệnh độc hại dưới chế độ Mỹ ngụy.


Những người được tiêm phòng rất lo lắng vì không biết mình bị tiêm thuốc gì. Dù sợ, nhưng không ai tránh khỏi. Việc kế tiếp là VC đưa tù nhân vào các nhà kho của bến cảng còn bỏ trống để chờ lên những toa xe lửa từng dùng để chuyên chở súc vật. Vách và sàn xe còn dính nhiều phân trâu, bò. Và tất nhiên là xe rất cổ lổ xỉ, khi chạy khua ầm ầm và chao lắc như xe hơi bị xụp ổ gà. Các cửa sổ đóng kín đến ngộp thở. Dọc đường có nhiều nơi được dân chúng đón chào bằng những trận mưa đá, ném vào hông và cửa sổ xe. Đoàn tàu đến Yên Bái, dừng lại ở gần bến phà Ô lâu. Ở đây, cũng được sắp xếp trước, dân chúng đông đảo, “ tự nguyện “ rót mời chúng tôi, mỗi người một gáo nước nóng nấu với lá vối và một gói thức ăn.
Việc làm nào của CSVN cũng có dụng ý. Những cục đá ném vào xe lửa hay xe molotova, chở tù có giá trị to lớn, lớn bằng sự hy sinh cả cuộc đời và tài sản của người dân đã mất cho cái gọi là công cuộc giải phóng miền Nam. VC làm như vậy để người dân miền Bắc được nếm chút men chiến thắng và quên đi những sự mất mát vô cùng lớn lao trong đời của họ. Phủ phàng hơn là suốt bao nhiêu năm sống dưới chế độ cộng sản người dân miền Bắc không hề được giải phóng và sẽ không bao giờ được giải phóng, cũng như người dân miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 và mãi mãi, chừng nào chế độ cộng sản còn tồn tại trên đất nước Việt Nam. VC cũng muốn nhắn nhủ rằng những bát nước lá vối cũng ấm áp, dễ chịu như lòng ưu ái, rộng lượng, tha thứ của người dân miền Băc, phe chiến thắng, dành cho tù nhân thuộc phe chiến bại.
Phải trải qua những chặn đường từ Nam ra Bắc bằng tàu thủy như chuyến tàu Sông Hương rồi tàu hỏa chở trâu bò trên đất Bắc mới thắm thía và thông cảm sâu xa với tác giả tập hồi ký Dốc Biển. Viết đến đây tôi nhớ lại khi đọc qua mấy lời giới thiệu được in ở các trang đầu cuốn hồi ký mà buồn thay cho tác giả, Người viết lời giới thiệu vô tình hay cố ý mà đã quên mất phần sau của cuốn sách, phần bi thảm nhất của cuộc đời người sĩ quan Hải Quân, hết lòng yêu quê hương, xứ sở, yêu Tư Do và yêu kiếp sống hải hồ khi phải sa cơ thất thế.
Hồi ký Dốc Biển chưa kết thúc ở đây. Nếu nói người tù trong các trại tập trung cải tạo phải nếm trải sự khổ đau, đọa đày, tủi nhục của cõi địa ngục trần gian, thì vợ con của họ cũng không khá hơn chút nào. Các bà lâm vào cảnh vô cùng khó khăn, bởi chế độ và chính sách ăn cướp miền Nam của cộng sản Bắc Việt, qua những lần đổi tiền, chính sách hộ khẩu, tịch thu tài sản, đuổi nhà, bắt đi vùng kinh tế mới vân vân.
Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn như vậy, các bà phải làm mọi cách để sinh tồn, một mình nuôi con nhỏ dại, còn phải lo nuôi chồng đang bi chết đói trong tù. Qua Dốc Biển, nếu người đọc tìm thấy hình ảnh đẹp như viên đá quý trong mối tình đầu, đầy thơ mộng của Uyên, thì cũng gặp được hạt kim cương, bóng dáng của người vợ hiền, đồng cam cộng khổ và luôn luôn chung thủy với chồng trong mọi hoàn cảnh. Và cuối cùng cũng tìm thấy nửa mảnh đời, một viên ngọc ẩn, vẫn chiếu sáng nơi sâu kín trong tâm hồn của tác giả.
Về phần tôi, người viết bài cảm tưởng nầy, vì cảm mến tác giả nên mạnh dạn viết ra với lòng tự hào, những gì mình cảm nhận được, gọi là đồng cảm với tác giả khi đọc hồi ký Dốc Biển, một tập hồi ký rất đáng đọc.
Những ngày cuối 4/2009.
TVD.

No comments:

Post a Comment