Sunday, September 26, 2010
Nhớ Bạn.
http://www.youtube.com/watch?v=1yyK561j0ew
( Mời click vào để nghe nhạc )
Mấy năm gần đây, cứ mỗi độ trời vào thu, tôi cảm thấy lòng mình mang một nỗi buồn thắm thía.
Mùa thu đến với tôi không nhẹ nhàng như Lưu Trọng Lư đã tả trong bài Tiếng Thu bất hủ của ông, trong đó có câu:
Lá thu kêu sào sạc,
Con nai vàng ngơ ngác,
Đạp trên lá vàng khô.
Cũng không phải vì hình ảnh của chiếc lá vàng rơi trong gió rồi không biết sẽ bay về đâu.
Cũng chẳng phải là buồn vô duyên cớ như bài thơ Chiều của Xuân Diệu với 2 câu đầu và 2 câu cuối trong bài thơ lục bát nầy.
Hôm nay trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.
....................................
Êm êm chiều ngẫn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẻ buồn.
Tính đến nay, đã bốn mùa lá rơi, hay nói cách khác là đã ba năm trôi qua, kể từ ngày bạn hiền Nguyễn Lương Thuật vĩnh viễn ra đi.
Đầu mùa thu năm 2007, tôi tiễn bạn lần cuối. Sáng hôm ấy mưa bay mù mịt, hạt mưa không lớn nhưng cũng đủ che kín bầu trời Seattle vốn là thành phố mưa buồn.
Tôi tiễn bạn với niềm đau vô hạn.
Thuật ơi.
Có nói gì thêm cũng muộn rồi,
Tiễn anh lần cuối, phút nầy thôi.
Tiếc thương, tôi khóc không thành tiếng,
Đau đớn, lệ tuôn uất nghẹn lời.
Lưu luyến nhìn anh giờ tiễn biệt,
Ngậm ngùi nuốt lệ phút chia phôi.
Trời buồn phủ một màu tang trắng,
Kẻ ở người đi hai nẻo đời.
Rồi một năm trôi qua, đến ngày giỗ đầu của Thuật, mùa thu năm 2008.
Nhớ bạn.
Trời đất xoay vần, vật đổi thay
Mùa thu lại đến, lá thu phai
Chạnh lòng, nhớ bạn, tìm đâu thấy
Kỷ niệm còn đây với tháng ngày.
Câu Chuyện Chai Rượu Vang Đỏ.
Vào những ngày gần cuối tháng năm, 2006, gia đình chúng tôi có mời các bạn bè vùng Tây Bắc đến nhà.
Anh chị Nguyễn Kim Đồng và vợ chồng chúng tôi kỷ niệm 38 năm và 35 năm ngày cưới.
Trong dịp này, bạn Nguyễn Lương Thuật có nhắc đến một loại rượu vang mà bạn ưa thích. Rượu vang đỏ Merlot được sản xuất tại vùng Yakima Valley thuộc tiểu bang Washington, do hãng rượu Yakima River chế tạo. Thuật tìm mua nhưng chưa gặp.
Từ đó, tôi để ý tìm mỗi khi có dịp đến những nơi bán rượu vang. Cuối cùng tôi đã tìm thấy và mua một chai của năm 2000, tôi để dành tặng Thuật. Nhưng đã muộn. Đầu mùa thu 2007, Thuật đã ra đi vĩnh viễn. Tính đến nay vừa tròn một năm. Ngày 20 tháng 9 năm nay-2008 là ngày giỗ đầu của Thuât. Nhân dịp nầy, tôi muốn nhắc đến chai rượu đỏ kể trên.
Chai rượu không đến tay người nhận.
Thông thường, người ta đem món quà như trong trường hợp kể trên đến cúng người quá cố. Vì lý do riêng, tôi không theo lệ nầy mà giữ chai rượu lại và đặt cho nó cái tên là " Nước mắt mùa thu "
Lý do là vì Thuật đã ra đi vào mùa thu và để lại biết bao giọt nước mắt. Tôi tưởng tượng những giọt nước mắt nầy được thâu lại và đem đựng trong cái chai có in hai chữ mạ vàng đậm nét Yakima River.
Tôi giữ chai rượu, chờ có dịp mở ra mời bạn bè, những người đã từng có nhiều gắn bó với Thuật cùng uống để tưởng nhớ đến người bạn hiền mà nay không còn nữa.
Ngày 18 tháng 9 năm 2008, gia đình chúng tôi đưa anh chị Trịnh Xuân Tụng trở lại Seattle. Tôi mang theo chai rượu nầy với mục đích kể trên.
Xế trưa ngày 19 tháng 9 năm 2008, chúng tôi, một số bạn bè cùng đến chùa Dược Sư Seattle để viếng Thuật. Chị Thuật cũng có mặt ở chùa ngày hôm ấy.
Ở chùa hồi lâu, trời nóng bức, Tụng khát nước, ra xe lấy nước uống. Vừa mở nấp xe phía sau thì chai rượu lăn ra và rơi xuống đường bể nát.
Tụng gom hết mảnh chai bể xách vào sân chùa. Ngọc Dung, con gái tôi buột miệng kêu lên " Vậy là bác Thuật đã uống hết chai rượu nầy rồi ". Tức thì những mảnh chai rơi hết xuống nền xi măng sân chùa kêu lảng cảng. Cái bao đựng chai rượu chi còn là một cái bọc giấy ướt nhẹp, rách nát.
Thấy vậy, tôi lên tiếng kể cho chị Thuật và các bạn đang có mặt về câu chuyện liên quan đến chai rượu đã bể.
Chị Thuật nghe qua, muốn bật khóc vì cảm động và nhớ Thuật. Tôi liền chuyển sang đề tài khác.
Chúng tôi chưa nếm qua hương vị của rượu trong chai nầy và cũng không chừng vì Thuật không cho phép nên không ai được nếm.
Bên lề câu chuyện lại có thêm một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Trước giờ chai rượu bể chừng 2 tiếng đồng hồ, tôi có nhắc câu " Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định " tại quán ăn Jasmine khi tôi nhận một tô mì không do tôi gọi mà do sự nhầm lẫn của người phục vụ.
Mặc dù chai rượu bị bể, nhưng tôi rất vui vì mục đích đã đạt được. Nghe qua câu chuyện về chai rượu vang đỏ, bạn bè đang có mặt ít nhiều đã nghĩ đến Thuật. Đối với tôi, đây là một kỷ niệm khó quên và mang một ý nghĩa đặc biệt nhân ngày giỗ đầu tới đây của Thuật.
Hai năm trôi qua, ngày giỗ mãn tang đã đến, nhưng thương tiếc không bao giờ nguôi trong lòng người ở lại với
Niềm Riêng.
Mùa thu nầy nữa đã ba thu,
Phút cuối bên nhau, lúc tạ từ.
Để lại bên em vùng kỷ niệm,
Đong đầy khóe mắt giọt sầu tư.
Khăn xô ấp ủ niềm thương nhớ
Chiếc bóng bàng hoàng giấc mộng du.
Giờ chiếc khăn tang em xếp lại,
Nghe lòng nặng trĩu gánh tương tư.
Kỷ niệm bốn mùa lá đổ.
Trần Văn Dùng - 2010.
Saturday, September 25, 2010
Kỷ Niệm Khó Quên.
Lương y, bác sĩ Võ Tam Anh
Thượng Đế ban cho ơn chữa lành
Chẩn đoán như thần, điều trị giỏi
Cứu nhân, độ thế rạng phương danh.
Là một tù nhân bị giam tại trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh, tôi gặp bác sĩ Võ Tam Anh trong hoàn cảnh đặc biêt. Bác sĩ Anh cũng là một tù nhân cùng trại.
Tháng 06 năm 1980, tôi đau nặng, khó thở, mệt mỏi toàn thân nên ghi tên để được khám binh. Tôi được bác sĩ cũng là tù nhân Trương Văn Quýnh khám và đề nghị cho tôi nghỉ lao động, thứ lao động khổ sai.
Đến ngày thứ ba, bịnh tình của tôi thêm trầm trọng và hầu như tôi không thể thở được nữa nhất là khi tôi nằm ngửa.
Buổi sáng, các đội xếp hàng ngoài sân, trước khi đi lao động, các bác sĩ tù đứng phía trước khám bịnh theo các danh sách được đưa đến. Bác sĩ Quýnh lại khám bịnh cho tôi và đề nghị cho đi lao động. Ra đến nơi lao động, tôi nhờ đội trưởng Lê Văn Cát, khóa 12 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang xin quản giáo cho tôi nằm dưới gốc cây trong khi anh em trong đội đi lao động.
Một ngày trôi qua với bao mệt nhọc và nặng nề đè nén trên tôi. Đêm đến tôi không ngủ được mà phải ngồi và cố gắng để thở.
Sáng hôm sau, tôi lại xin khám bịnh và không được phép vì đã ghi tên khám bịnh nhiều ngày liên tiếp.
Không còn cách nào khác, tôi nói với đội trưởng Lê Văn Cát và trốn ở lại trại, không theo đội đi lao động. Tôi nghĩ tôi không sống nổi với bịnh trạng hiện tại nên liều. Tôi đến trạm xá của trại để mong được khám bịnh ngoài danh sách. Những bịnh nhân có tên trong danh sách sẽ được cho thuốc hoặc điều trị sau khi họ được khám ở ngoài sân trước đó.
Tôi gặp bác sĩ Võ Tam Anh, bác sĩ điều trị ngày hôm ấy. Tôi trình bày sự việc với anh. Anh nói vì không có tên trong sổ khám bịnh nên tôi phải đến sau cùng.
Tôi chờ đợi trong vui mừng và hy vọng. Vui mừng là vì yêu cầu không hợp lệ của một tên tù đã được lắng nghe và hy vọng vì sẽ gặp được thầy thuốc trong hoàn cảnh đặc biệt, tối cần.
Khoảng 11 giờ trưa, mọi người đã đi hết. Ở trạm xá, tôi nhìn quanh thấy chỉ còn có bác sĩ Anh và vài y tá XHCN. Bác sĩ Anh bắt đầu khám cho tôi. Trong phút đầu tiên, bác sĩ Anh vừa đặt bàn tay lên lưng tôi, và tay kia gõ mấy cái, liền cho tôi biết là phổi tôi có nước.
Bác sĩ Anh gọi các y tá đỏ đến và chỉ cho họ cách chẩn đoán bằng ống nghe khi tôi cố thở mạnh.
Đây là giây phút may mắn của đời tôi. Tôi gặp được thầy thuốc giỏi, vị thần y cứu mạng của tôi, còn đối với các đồng nghiệp đang làm chủ cái trạm xá nầy, anh là một y sư.
Kết quả chẩn đoán đã rõ ràng, anh đề nghị chuyển tôi đến bịnh viện Phủ Lý để điều trị, nhưng tên Trung Úy Y Sĩ truởng trạm xá bác bỏ ngay chỉ vì bịnh nhân là một tên tù có cấp bậc Thiếu Tá.
Bác sĩ Anh cho tôi biết quyết định trên và bảo rằng anh không thể làm gì khác hơn. Dầu vậy, anh nói sẽ cố gắng hết sức để trị bịnh cho tôi. Anh đề nghị một phương pháp ngoài sách vở và chưa được dùng trước đó. Anh dùng kim vô nước biển đâm xuyên qua lưng tôi rồi dùng ống chích rút nước từ trong phổi ra. Anh làm như vậy ba lần trong hai ngày liền và rút ra một lượng nước khoảng 1 lít rưỡi. Anh nói làm như vậy không đúng vì không khí sẽ vào trong màng phổi của tôi.
Tôi đồng ý với cách anh làm mà không lo lắng hay sợ sệt. Tôi không có cách lựa chọn nào khác.
Một việc quan trọng nữa không thể thiếu mà anh đã tận tình giúp tôi. Với uy tín của một người thầy đối với các đồng nghiệp đang nắm quyền quyết định, anh đề nghị cấp thuốc cho tôi. Trưởng trạm xá chấp thuận số thuốc cấp cho tôi lên đến hơn 40 hũ gồm streptomycine và penicillin.
Sau thời gian dài chữa trị, tôi đã khỏi bịnh, nhưng sức khỏe rất kém nên phải nằm lại trạm xá gần 2 tháng để tiếp tục điều trị đến khi gia đình tiếp tế thêm thuốc.
Trong lúc còn nằm tại trạm xá, tôi còn được sự giúp đỡ đặc, biệt từ các chiến hữu và bạn bè ở tù chung trại.
Cố mục sư tuyên uý Nguyễn Thành Mác cho tôi một tô cháo ông nấu bằng thịt hộp và rau lang. Mặc dầu bị cấm nhưng ông lén bưng tô cháo từ phòng giam số 1 ở sát cổng chánh tới trạm xá ở phía tận cùng của trại giam.
Người thứ hai là niên trưởng Nguyễn Bá Trang, khóa 4 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Ông cho tôi hộp sữa con chim của Pháp. Ông tự tay khui hộp sữa để tôi không từ chối. Hộp sữa nầy là món quà do một vị Đại Tá, bạn đồng tù tặng ông. Ông để dành, khi bịnh mới uống. Tôi nhắc lại điều nầy thì ông nói:" anh bịnh trước thì uống trước ". Nghĩa cử nầy khiến tôi vô cùng cảm kích.
Người thứ ba là một người bạn Không Quân mới quen. Anh vừa nhận được một thùng quà gồm hằng trăm thứ thuốc quý từ bên Đức. Anh đưa cho tôi tờ giấy ghi tên các loại thuốc và bảo nếu tôi cần thứ nào anh sẽ biếu tôi bất kể là thuốc gì và số lượng là bao nhiêu. Tôi cần thêm trụ sinh và anh tặng tôi một vỉ 10 viên. Hai niên trưởng khác là Lê Văn Cát và Lê Như Bái đều thuộc khóa 12 Sĩ Quan Hải Nha Trang, ở cùng đội. Hai người nầy cũng rất quan tâm và giúp đỡ tôi. Mỗi ngày anh Lê Như Bái đều cho tôi một lon guigoz nước nóng do anh nấu để tôi có nước uống thêm.
Vào một buổi trưa, tôi đang nằm trên giường ở trạm xá và đang thức, tôi bị tình trạng giống như hượt tinh và áp huyết xuống dưới 80. Tôi nghĩ rằng mình không thể sống được nữa nên cố gắng viết một lá thư khuyên vợ nên lấy chồng khác để có thể nuôi hai con còn quá nhỏ. Nhận được thư, nhà tôi không nghe theo lời khuyên, ngược lại, cấp tốc lên đường đến thăm tôi và tiếp tế thêm thuốc tôi đang cần.
Hiện nay, gia đình chúng tôi đang sống trên đất nước tự do Hoa Kỳ. Hai con tôi đã trưởng thành và vợ chồng chúng tôi cũng có được đời sống ổn định.
Tính đến nay, tôi sống thêm được 28 năm là nhờ có duyên kỳ ngộ, gặp được bác sĩ Võ Tam Anh trong những ngày đau yếu thập tử nhất sinh ở trại giam Nam Hà năm 1980.
Chính thời gian đau yếu nầy đã giúp tôi nhận ra nhiều điều hết sức quý báu. Tôi hiểu được ý nghĩa đích thực của câu
" Lương Y như Từ Mẫu " Giá trị của sức khỏe đối với đời sống. Tình người, tình bạn, tình huynh đệ chi binh, tình nghĩa vợ chồng.
Bác sĩ Võ Tam Anh mãn tù trước tôi. Tháng 5 năm 1982, tôi cũng ra khỏi tù. Đã nhiều lần, tôi đi tìm để thăm anh nhưng không biết anh ở đâu. May nhờ có Đặc San Lướt Sóng mà một đọc giả cũng là bạn cùng khóa cho tôi biết tin tức khi đọc bài " Câu Chuyện Đồng Nghiệp " của tác giả Phương Vũ Võ Tam Anh.
Tôi thuật lại câu chuyện vui buồn lẫn lộn nầy để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với bác sĩ Võ Tam Anh, vị ân nhân cứu mạng của tôi.
Xin chúc anh được nhiều sức khỏe và mến tặng anh 4 câu thơ mở đầu bài viết này.
Thân kính.
Thanksgiving 2008-Trần Văn Dùng.
Friday, September 24, 2010
TÌNH HUẾ.
( Mời click vào để nghe nhạc- Bảo Yến- Huế Tình Yêu Của Tôi )
Cách biệt phương trời, dạ nhớ mong.
Sông Hương, núi Ngự, bạn chung trường.
Hồi chuông Thiên Mụ ngân siêu thoát,
Mái đẩy, giọng hò tạo vấn vương
Đáy nước, Trường Tiền in rõ bóng.
Con đò Vĩ Dạ nối liền sông.
Tóc thề phủ kín đôi vai nhỏ,
Nặng trĩu ân tình xứ Huế thương.
Thân tặng Bác sĩ Võ Tam Anh và các anh chị cựu học sinh Huế nhân ngày họp mặt Aug. 1, 2009. tai Seattle.
Trần Văn Dùng.
Thursday, September 23, 2010
http://susie1114.com/Fall/autumnleaves.html
( click vào để nghe nhạc )
Các bạn thân mến,
Trời đã vào thu, mời các bạn nghe một bản nhạc Mỹ
do Nat King Cole hát
Autumn Leaves-lyric. Original poem Les Feuilles Mortes.
Jacques Prévert
The falling leaves
Drift by the window,
The Autumn leaves
Of red and gold.
I see your lips
The summer kisses.
The sun-burned hand,
I used to hold.
Since you went away,
The days grow long.
And soon I'll hear
Old Winter'song.
But I miss you most of all, my darling,
When Autumn leaves start to fall.
Johnny Mercer.
( click vào để nghe nhạc )
Các bạn thân mến,
Trời đã vào thu, mời các bạn nghe một bản nhạc Mỹ
do Nat King Cole hát
Autumn Leaves-lyric. Original poem Les Feuilles Mortes.
Jacques Prévert
The falling leaves
Drift by the window,
The Autumn leaves
Of red and gold.
I see your lips
The summer kisses.
The sun-burned hand,
I used to hold.
Since you went away,
The days grow long.
And soon I'll hear
Old Winter'song.
But I miss you most of all, my darling,
When Autumn leaves start to fall.
Johnny Mercer.
Sunday, September 19, 2010
Ngàn năm Thăng Long- bài xướng
Năm nay thần Hổ giúp Thăng Long
Hợp sức đồng lòng tát biển Ðông
Quét sạch bạo tàn ngăn giặc nước
Vẹn toàn lãnh thổ cứu non sông
Mùa Thu lịch sử ngàn năm trước
Vùng đất Hoa Lư vạn lẫy lừng
Dời đến Ðại La xây dựng nước
Vua tôi thề quyết giữ quê hương
Thăng Long 1010-2010.
TVD.
Còn Ðâu Thăng Long – bài họa
Thôi thôi đừng nhắc hổ cùng long
Chúng bán tiêu rồi mất biển Ðông
Bản Giốc Nam Quan cùng Tục Lãm
Lâm Ðồng Bảo Lộc hoá thành sông
Thăng Long một thuở ngàn năm trước
Ðất Bắc còn đâu tiếng lẫy lừng
Nhục nhã muôn đời quân phản quốc
Căm hờn Hồ tặc bán quê hương
Thanh Ty
2/2010
Mong Ngày Về - bài họa
Chẳng hổ là con cháu Lạc Long
Văn chương chấm phá rạng trời Ðông
Nguyễn quân ngọn bút vang như sấm
Trần lão dòng thơ chảy tựa sông
Chí sĩ thanh gươm còn sáng chói
Nam nhi tiếng sét vẫn vang lừng
Một mai đất mẹ không còn giặc
Mình sẽ cùng nhau dạo cố hương
Trần Văn Lương
Kính họa 2/2010
Nhớ Thăng Long hờn giặc Cộng- bài họa
Khí hùng một thuở dậy Thăng Long
Ðất Việt trời Nam một cõi Ðông
Văn miếu ngàn năm bia kết đá
Ngọc Hồi vạn tuế núi hòa sông
Lòng đau chốn cũ vùi thanh thế
Dạ nát thành xưa hết lẫy lừng
Bán nước tày trời căm giặc Cộng
Cùng nhau phục quốc cứu quê hương
Người Xứ Vạn
2/2010
Nhớ Phố Hàm Long – bài họa
Nhớ thời lêu - lổng phố Hàm – Long
Thuở ấy Hà – Thành lộng gió đông
Cán bộ nghêu ngao gào sập núi
Dân lành xớ rớ sợ trôi sông
Tung tiền bán tước : chơi cho nổi
Ném bạc mua danh : để được lừng
Uất ức nuôi hờn trong máu thịt
Thương nòi nhớ nước hận tha hương
Hoàng Hà
2/26/2010
Linh Ðịa Thăng Long – bài họa
Danh xưng lịch sử đất Thăng Long
Linh địa Tiên Rồng ẩn biển Ðông
Tây Bắc ngất trời ba rặng núi
Ðông Nam uốn lượn một dòng sông
Ngăn thù năm cửa ô bề thế
Ðuổi giặc một thanh kiếm lẫy lừng
Từ thuở Thăng Long thành Hà Nội
Than ôi dân Việt mất quê hương.
Nguyễn Ðình Sài
Seattle, 2/27/2010
Saturday, September 18, 2010
Mong Manh.
http://www.youtube.com/watch?v=1442-fWajo8&feature=related
( Mời click vào để nghe nhạc )
Như ta nhìn thấy đóa hoa hồng
Phơi phới cành xuân khoe sắc hương
Khiến trời ganh tị mầu hồng thắm
Giọt sương mai tưới lúc hừng đông
Nét hoa duyên dáng, tình nồng ấm
Quanh vườn cây cảnh nức mùi hương
Mưa sa, nóng bức hoa tàn lụn
Từng cánh tả tơi rụng khỏi cành
Cũng vậy, đời em đang tuổi xanh
Đất trời ca ngợi sắc khuynh thành
Định mệnh biến em thành cát bụi
Phúng điếu đầm đìa suối lệ tuôn
Đây bình đầy sữa giỏ đầy bông
Để lúc bình sinh hay quá cố,
Thân em là những đóa hoa hồng.
Trần Văn Dùng phỏng dịch bài
Sonnet de Pierre de Ronsard.
( sur la mort de Marie.)
Comme on voit sur la branche au mois de Mai la rose
En sa belle jeunesse, en sa première fleur
Render le ciel jaloux de sa vive couleur
Quand l’aube de ses pleurs au point du jour l’arrose
La grâce dans sa feuille et l’amour se repose
Embaumente les jardins et les arbres d’odeur
Mais battue ou de pluie ou d’excessive ardeur.
Languissante elle meurt feuille à feuille déclose
Ainsi en ta première et jeune nouvauté
Quand la terre et le ciel honoraient ta beauté
La Parque t’a tuée et cendre tu reposes
Pour obsèques recois mes larmes et mes pleurs
Ce vase plein de lait ,ce panier plein de fleurs
Afin que vif et mort ton corps ne soit que roses.
Pierre de Ronsard.
’
Wednesday, September 15, 2010
Tiếng chuông Thiên Mụ.
http://www.dailymotion.com/video/x8ngw0_dem-tan-ben-ngu-ngoc-ha_music
( Mời click vào để nghe Ngọc Hạ hát- Đêm Tàn Bến Ngự nhạc Dương Thiệu Tước.)
http://www.dailymotion.com/video/x8ngw0_dem-tan-ben-ngu-ngoc-ha_music
( Mời click vào để nghe Ngọc Hạ hát- Đêm Tàn Bến Ngự nhạc Dương Thiệu Tước.)
Gíó đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Hai câu ca dao nầy chắc hẳn không xa lạ gì đối với chúng ta. Tuổi đời càng cao, tai ta nghe càng nhiều tiếng chuông, từ chuông giáo đường đến chuông chùa và ngay cả tiếng chuông đồng hồ Big Ben, từ xa vạn dặm, đưa tới.
Vài nét lịch sử về chùa Thiên Mụ. Ngày kia, chúa Nguyễn Hoàng đi dạo đến vùng đồi Hà Khê bên bờ sông Hương, cách trung tâm Huế chứng 5 hoặc 6 km,. nhìn thấy quả đồi như nổi lên hình con rồng quay đầu nhìn lại, phía trước trông ra sông dài, phía sau có hồ rộng, khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, hữu tình. Người dân địa phương thường nói cái đồi nầy linh lắm, thỉnh thoảng có một bà lão mặc áo đỏ, quần xanh hiện ra, ngồi trên đỉnh đồi và nói “ Rồi sau nầy sẽ có một minh chúa đến đây sửa núi xây chùa để tụ linh khí, bao tồn long mạch.”
Chúa Nguyễn Hoàng cho rằng nơi đây là địa linh nên cho xây trên đồi Hà Khê nầy một ngôi chùa và đặc tên là chùa Thiên Mụ, đến đời vua Tự Đức đổi tên là chùa Linh Mụ. Năm 1710, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc một cái chuông, trên chuông có khắc bài minh có câu.
Chú nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Việc đúc đại hồng chung nầy được thực hiện vào một ngày rằm, Phật đản, chú nguyên đúc chuông, có nhiều Phật tử đến thọ giới đã phát tâm, thả vào vạc đồng sôi nhiều vật quý giá. Nhờ vây chiếc chuông mang nhiều giá trị tâm linh và một lượng hợp kim đặc biệt nên âm thanh ngân nga, siêu thoát.
Năm Gia Long thứ 14 năm 1815, chùa có thêm một cái chuông nữa. Cái chuông nầy làm nhiệm vụ giữ nhịp thời gian cho đến nay, còn cái chuông đầu tiên được giữ lại như một pháp khí chứ không xử dụng.
Đại hồng chung không chỉ là một khối đồng vô tri. Theo niềm tin rằng tiếng chuông chùa có công năng, diệu dụng linh thiêng ở cả cõi u minh và dương thế. Về hình thức quả chuông là pháp khí của chùa, quan trọng hơn nữa là biểu tượng của Phật Giáo, nên lễ Rót Đồng đúc chuông, được thực hiện thật nghiêm trang với mọi thành tâm chú nguyện của tăng, ni, Phật tử cùng thí chủ.
Trong thời phong kiến, người đánh chuông Thiên Mụ gọi là Tăng cang, một chức quan do triều đình phê chuẩn. Người Tàu thì gọi là chung đầu.
Giờ giấc thỉnh chuông vào lúc 3.30 sáng và 7.30 tối. Mỗi lần thỉnh chuông là 108 tiếng chuông và đúng một tiếng đông hồ và phải đều đặn, trung bình 4 phút đánh 7 tiếng chuông. Người thỉnh chuông phải chú nguyện, tạo hạnh công, vừa thỉnh chuông vừa niệm câu kệ, điển hình như
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết.
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên.
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm,
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền.
( Thiên Mụ chung thanh – Thiệu Trị )
Nghĩa là.
Một trăm lẻ tám tiếng chuông làm tiêu tan trăm oán kết muộn phiền.
Ba ngàn thế giới tỉnh ba duyên.
Tiếng chuông giờ ngọ ban ngày cảm đến cõi trần lẫn cõi u minh.
Tiếng ngân xa vào giờ dần ban đêm cho thấy sự diệu huyền của Đạo.
Có người cho rằng tiếng chuông chùa Thiên Mụ vang xa là vì chùa ở trên một ngọn đồi cao, cạnh kề sông Hương, chỗ sâu nhất, tiếng chuông dội xuống sông nên vang xa.
Lại nữa, chuông đúc bằng đồng lẫn vàng bạc, tiếng đồng thì vang xa, tiếng vàng, bạc thì chận lại nên đã tạo nên âm thanh ngân nga đặc biệt như vây.
Người ta còn kể rằng.
Trong ngày đúc chuông, với lòng thành, ai có gì dâng cái đó để góp phần đúc chuông, một bà lão hành khất không có gì, bà bèn rứt cái nút áo để dâng. Người thợ đúc chuông chọn lựa và chỉ lấy đồng, thau, bạc, vàng. Cái nút áo của bà lão bị loại bỏ.
Chuông đúc xong, khai chuông, tiếng chuông ngân nga, thánh thót. Lúc đó người ta phát hiện trên mặt chuông có một lỗ nhỏ bằng hạt ngô, người thợ đúc chuông bèn miết cái lỗ nầy lại. Nhưng khi đánh thử thì chuông bị câm., phải moi chỗ vừa miết ra để lộ cái lỗ khuyết trên mặt chuông như trước. Tiếng chuông lại ngân nga siêu thoát.
Thế mới biết chuông chùa Thiên Mụ có hồn ngay từ khi mới đúc.
Cái lỗ khuyết trên mặt chuông đã góp một triết lý cho đời rằng.
“ Đừng coi thường sự đóng góp nhỏ nhoi của người hành khất.
Sự dâng hiến là do ở tấm lòng. Bà lão nầy cúng chùa một cái nút áo, giá trị không đáng kể. Thế nhưng tấm lòng thật rộng rải., bà dâng hết cái gì mình có. Người giàu dâng rất nhiều nhưng đó là một phần của cải của họ mà thôi.
Tôi có đọc câu chuyện một mụ góa dâng của ghi trong Thánh Kinh như sau
Mác 12:41-44.
41-Đức Chúa Jésus ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng, coi dân chúng bỏ tiền vào thế nào 42- Có lắm người giàu bỏ nhiều tiền; cũng có một mụ góa nghèo kia đến bỏ hai đồng tiền ăn một phần tư xu. 43- Ngài bèn kêu môn đồ mà phán rằng: Quả thật ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ tiền vào trong rương nhiều hơn hết thảy những kẻ đã bỏ vào. 44- Vì mọi kẻ khác lấy của dư mình bỏ vào, còn mụ nầy nghèo cực lắm, đã bỏ hết của mình có, là hết của có để nuôi mình.
Nói đến tiếng chuông chùa mà không nhắc đến tiếng chuông chùa Hàn Sơn, ở ngoại thành Tô Châu, thuôc tỉnh Giang Tô, bên Tàu e rằng thiếu sót.
Một giai thoại văn chương hiếm có.
Truyền thuyết kể rằng, vào thế kỷ thứ VIII, trong một đêm trăng, ở bến Phong kiều, có một chiếc thuyền dạo mát đậu lơ lửng trên sông, trong thuyền có một nhà sư và đệ tử, trụ trì tại chùa Hàn Sơn gần đó. Nhà sư ngẫu hứng ngâm nga hai câu thơ.
Sơ tam, sơ tứ, nguyệt mông lung.
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
( Mồng ba mông bốn trăng mờ,
Nửa đường móc bạc nửa như cung trời )
Chú tiểu thấy hay quá tiếp thêm hai câu.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy đế, bán phù không.
( Một bình ngọc trắng chia hai.
Nửa chìm đáy nước, nửa chìm từng không )
Nhà sư và chú tiểu trở về lại chùa thì đã nửa đêm. Nhà sư đánh chuông chùa lên để xin cảm tạ Đức Phật về sự hoàn thành bài thơ tứ tuyệt kể trên.
.Trong lúc đó,Trương Kế cũng đậu thuyền trên khúc sông nầy, dưới ánh trăng tà, đối cảnh sinh tình, ông cảm hứng và làm thơ.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên.
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Nhưng ông bị cụt hứng, lòng buồn, nằm ngủ trên thuyền. Chính tiếng chuông chùa mà nhà sư gióng lên lúc nửa đêm nầy ở chùa Hàn Sơn, vọng đến mạn thuyền đã gợi ý cho ông làm thêm hai câu cuối để có bài thơ tứ tuyệt, Phong Kiều Dạ Bạc. hoàn chỉnh.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Trương Kế
Tản Đà dịch thơ.
Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
Bài thơ tứ tuyệt bất hủ nầy được yêu thích và truyền tụng hơn cả ngàn năm nay, nó đã góp phần làm giàu cho ngành du lich của Trung Hoa. Và dĩ nhiên, nó cũng có một vị trí xứng đáng trong trái tim của những người yêu thích thơ Đường.
Trở về với đất Thần Kinh, xứ Huế, nước Việt Nam.
Trở về với đất Thần Kinh, xứ Huế, nước Việt Nam.
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Hai câu ca dao trên đây là hai câu tả cảnh, tương tự như bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan., thấy sao nói vậy, nghe sao thuật vây. Nghĩa là phải nghe tận tai, nhìn tận mắt thì lời thơ mới xác thực và mới có hồn..
Gió đưa cành trúc la đà, diễn tả cảnh trí nên thơ, hữu tình dể hiểu, còn Tiếng chuông Thiên Mụ và canh gà Thọ Xương thì không khéo cũng dể bị hiểu sai..
Ta đã nói nhiều về Tiếng chuông Thiên Mụ. Bây giờ thử tìm hiểu hai chữ Thọ Xương.
Thọ Xương là tên chỉ địa danh. Có vài nơi ở cách xa nhau nhưng có cùng tên gọi là Thọ Xương như một ở Thanh Hóa, một ở Bạch Mai, Hà Nội..
Xết về lý thì nếu vừa nghe tiếng chuông Thiên Mụ ở Huế lai vừa nghe tiếng gà gáy ở tận Thanh Hóa hoặc Hà Nội là điều bất khả thi.
Trong Web site của trường học Hàm Nghi có bài viết về địa danh Thọ Xương như sau: Bài viết nầy có trích ra một đoạn trong Đại Nam Nhất Thống Chí:
“ Thọ Khương là một vùng đồi, sát cạnh bờ nam sông Hương, đối diện đồi Hà Khê bên kia sông. Từ đồi Thọ Khương có thể nhìn được toàn cảnh xứ Huế từ núi Kim Phụng đến phá Tam Giang, từ Văn Thánh, Võ Thánh đến bến chợ Dinh, Cồn Hến. Dưới rừng thông Thọ Khương là kho Thượng Khương, kho thóc tại Thuận Hóa, thời tiền Nguyễn.
Trước gọi là Thọ Khương, đầu niên hiệu Gia Long đổi thành Thọ Xương. Năm Minh Mạng thứ 5 đổi tên là đình Long Thọ Cương.”
Trước gọi là Thọ Khương, đầu niên hiệu Gia Long đổi thành Thọ Xương. Năm Minh Mạng thứ 5 đổi tên là đình Long Thọ Cương.”
Vây câu ca dao “ Tiếng chuông Thiên Mụ, Canh gà Thọ Xương ” xuất hiện vào thời vua Gia Long và Thọ Xương là một địa danh ở Huế, thêm vào các địa danh Thọ Xương đã có trước tại vài nơi khác.
Còn canh gà là tiếng gà gáy lúc canh tư hay canh năm, báo hiệu trời sắp sáng, nhờ đó mà người dân ở địa phương biết được giờ giấc để chuẩn bị cho một ngày mới.
Chiếc đại hồng chung lớn nhất vùng Đông Nam Á.Tháng 8 năm 2006, tại một lò đúc đồng ở Huế, người ta bắt đầu công việc đúc chiếc đại hồng chung nặng 30 tấn với chi phí là 6,5 tỷ..
Đại hồng chung nầy sẽ được an trí tại khu di tích văn hóa, lịch sử Trường Yên, Ninh Bình để kỷ niêm 1000 năm ngày Thăng Long được Lý Thái Tổ khai sanh năm 1010. Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đóng đô tại Hoa Lư, Ninh Bình, ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu năm 1009 Mùa Thu năm 1010 dời đô về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long.
Theo niềm tin cho rằng tiếng vang của chuông chùa có thể thấu đến cõi địa ngục u ám, chúng sinh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông nầy liền được giải thoát. Lại nữa tiếng chuông thánh thót của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt lòng tham lam, sân hận mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.
Tiếng chuông chùa Thiên Mu được các bậc vua chúa, Phật tử và dân thường trân trọng, chú nguyện, lắng nghe, bảo toàn từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu đến vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Tính đến nay, trải qua chiều dài lịch sử gần 300 năm, tiếng chuông chùa Thiên Mụ không ngừng ngân nga, siêu thoát trên dưới 23,573,160 tiếng, đem đến người nghe niềm tin bất hoại vào Đạo vị. Người dân thường cũng biết được thời khắc, giúp cho sinh hoạt thường nhật của họ được điều hòa nhờ,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, giáo sư môn triết học của viện Hán học, Huế, nói rằng: “ Tổ quốc ta, phải nghe trong tiếng chuông Linh Mụ.’’
Còn chiếc đại hồng chung lớn nhất vùng Đông Nam Á, đặt tại khu di tích lịch sử ở Trường Yên, Ninh Bình, liệu có đủ công năng để mang được tiếng ngân nga diệu huyền của tiếng chuông Bát nhã đến những kẻ đang bị đọa để họ được giải thoát hay không?.
Tiếng chuông đại hồng chung quốc doanh nầy có thể giúp cho loài quỷ đói, khát máu, nhẹ bớt lòng tham lam như niềm tìn của Phật tử chân chính, có lòng thành chú nguyện hay không?. Hay khi tiếng chuông gióng lên chỉ khiến cho lòng người thêm buồn thảm hơn so với nỗi buồn của bà Huyện Thanh Quan?.
Thăng Long Thành Hoài Cổ.
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?.
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Bà Huyện Thanh Quan
Chỉ có người dân Việt Nam yêu chuộng Tự Do và Công Lý mới có câu trả lời trung thực nhất, không ai có thể trả lời thay cho họ được.
Một ngàn năm Thăng Long, 1010 – 2010. TVD-Wa.
NẾM RƯỢU
http://www.youtube.com/watch?v=MXQTWCTc0aI&feature=related
( Que sera sera - Doris Day )
Hằng năm, cứ vào khoảng giữa mùa Xuân, chúng tôi tháp tùng một " tour " để đi nếm rượu tại các hãng rượu vang ở địa phương..
Ngoài việc nếm thử tại chỗ, rượu mới và cũ của các nhà sản xuất rượu vang, chúng tôi xem đây là dịp để biết thêm về nếp sinh hoạt đặc biệt nầy, và cũng là một hình thức giải trí, một cuộc du lịch bỏ túi. Năm nay “ tour “ được tổ chức vào ngày 25 tháng 4 năm 2009. Các nơi ghé qua, là vùng Red Mountain , Benton city với hãng rượu vang Terra Blanca. Hãng rượu, Horizon’s Edge ở Sunnyside, cùng 7 hãng rượu vang ở Prosser, tập trung tại khu vực Air Field, exit 80, xa lộ I-82.
Đến trưa, bác tài dừng xe cạnh phòng nếm rượu của hãng rượu Tucker, ở Sunnyside để mọi người nghỉ chân và ăn trưa ở đây. Nhà hàng seafood Anthony nổi tiếng cử toán phục vụ lưu động đến đây với món hào ( oyster ) nướng, sauce cà và bơ độc đáo, cũng có tôm và cá salmon nướng. Các món ăn biển nầy đi kèm với vang trắng rất hợp. Có người không thích ăn trưa ở đây, phải chờ khi ghé qua khu vực Air Field, Prosser, để dùng món cá salmon nướng của nhà hàng seafood Bonefish cũng tuyệt vời.
Khoảng 5 giờ chiều, xe bus rời trạm chót, trở về lại Tri cities. Trên xa lộ I-82 East, không khí trong xe trở nên vui nhộn hẵn lên. Một cô gái Mỹ, trẻ, khá xinh, cầm ly rượu vang Syrah trong tay, vừa uống vừa hát bài Que sera sera, với sự phụ họa của mấy người đàn ông, đang chia nhau chai rượu vang đỏ mang nhản hiệu Syrah. Từ Syrah khi đọc lên, nghe mường tượng từ sera trong tiếng Pháp.
Vào cuối thập niên 50, nữ danh ca, kiêm diễn viên điện ảnh Doris Day, người Mỹ gốc Đức rất được ưa chuộng với bản nhạc nầy. Bản Que sera sera đã trở thành “ signature song “ của người nghệ sĩ tài danh, Doris Day.
.Các cơ sở sản xuất rượu vang địa phương.
Trong bang Washington state có nhiều nơi làm rượu vang, trong số đó có hai vùng trọng điểm là Yakima valley và Columbia valley..Tiếng chuyên môn gọi các vùng nầy là AVA, viết tắt American Viriticulral Areas. AVA bao gồm các vùng gọi theo tiếng Pháp là Appellation. Riêng Columbia valley có đến 07 Appellation, trãi dài dọc theo hai bên bờ sông Columbia, từ Wapato thuộc Yakima, phía tây, Washington state đến Milton Freewater, đông bắc bang Oregon.
Số phận của trái nho để sản xuất rượu vang gắn liền với các AVA cũng giống như thân phận của người con gái và 12 bến nước, trong nhờ đục chịu.
Trái nho từ những cái nôi của rượu vang nổi tiếng ở châu Âu, theo bước chân những nhà truyền giáo, có mặt trên khắp năm châu.
Nho được mang từ châu Âu sang trồng ở New York , bởi các Pilgrim, không thích hợp lắm vì thời tiết có lúc quá lạnh, mà có sống sót cũng không thể cho thứ rượu vang ngon như nó được trồng ở Bordeaux hay ở vài nơi khác.
Một trong những sự kiện lịch sử còn đậm nét là chai rượu Champagne hảo hạng của nhà sản xuất Moet & Chandon của Pháp mang nhãn hiệu Dom Pérignon nhằm vinh danh vị tu sĩ thuộc dòng Benedictine nầy, người đi tiên phong trong việc làm ra rượu sủi bọt nổi tiếng theo phương pháp cổ truyền, mang nhãn hiệu Champagne. Mục đích ban đầu của việc làm ra rượu vang là để dùng vào việc tế lễ trong các nhà thờ của người Công giáo. nên trái nho dùng chế tạo rượu vang cũng có chiều dài lịch sử tương đương với lịch sử của các tu viện được thành lập..
Các chai rượu lừng danh trên thế giới từ thủa xa xưa đều xuất xứ từ các vùng trồng nho nổi tiếng trên mặt đất như Bordeaux, Champagne, Cognac, tiếng Pháp gọi là AOC, viết tắt của Appellation d’Origine Controlée. Hoặc từ các vùng trồng nho đặc biệt của các nước khác như, Thổ Nhỉ Kỳ, Tây Ban Nha, Đức, và đặc biệt là Ý..
Mỹ, mặc dù đi sau trong ngành sản xuất rượu vang, nhưng cũng đã tạo cho mình một chỗ đứng vững vàng trên trường quốc tế về mặt hàng rượu vang, Rượu vang được sản xuất từ các AVA của Mỹ có hạng trên thế giới ( world-class ) trước tiên phải kể đến Napa Valley và Sonoma Valley, California. Về sau có các AVA khác như Williammette Valley , Oregon hay Columbia Valley của bang Washington state.
Hai hãng rượu vang lớn và kỳ cựu của bang Washington state là Château Ste Michelle và Columbia Crest, được thiết lập vào thập niên 60 và 70. Hai hãng rượu nầy, một có cơ sở ở Seattle , một ở Tri- Cities, trên xa lộ 221.
Hiện nay bang Washington có khoảng 500 hãng rượu vang lớn nhỏ, hầu hết những hãng nầy có cơ sở hoặc ruộng trồng nho ở phía đông của dẫy núi Cascade. Và đa số các hãng nầy mới bắt đầu sản xuất hồi đầu thập niên 80.
Hoa Kỳ là một quốc gia non trẻ so với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ngành sản xuất rượu vang cũng sanh sau đẻ muộn so với các nước châu Âu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức.vân vân.
Ngành công nghiệp rượu vang của bang Washington còn non trẻ hơn nhiều. Tuy nhiên, dù mới bắt đầu có mấy chục năm, ngành rượu vang của bang nầy đã gây được sự chú ý của thế giới và đứng thứ nhì của cả nước nếu tính theo số lượng, chỉ sau California .
Về phẩm chất, cũng có những thành tích đáng kể, như chai Cabernet Sauvignon 2003 của hãng Château Ste Michelle, huy chương vàng, Riesling của hãng Kiona, huy chương vàng. Những năm gần đây có thêm nhiều loại rượu vang được sản xuất ở Washington state đoạt huy chương vàng trong các cuộc nếm rượu được tổ chức tại các hội chợ triển lãm quốc nội và quốc tế.
Đôi điều cần để ý khi muốn tham gia một “ tour “ nếm rượu vang. ( wine tasting tour }
-Sở thích, hoặc muốn làm quen với rượu vang.
-Sức khỏe phải bình thường, Nếu nghẹt mũi, đắng miệng, thì không nên tham gia nếm rượu vang, vì khi nếm rượu vang, ta phải vận dụng cả ba giác quan, thị giác, thính giác và vị giác.
-Tránh các mùi gắt của nước hoa, dầu xanh hay after shave lotion vân vân.
- Nếm các thùng rượu mới, sản xuất cùng năm, gọi là nếm theo hàng ngang.
- Nếm cùng một loại rượu, thuộc nhiều năm liên tiếp, gọi là nếm theo hàng dọc.
Có người cho rằng từ “Nếm” trong trường hợp nầy là không chính xác. Nhưng không sao, vì trong lãnh vực nào cũng có từ chuyên môn hoặc thuật ngữ riêng nên khi nói đến nếm rượu vang thì ta biết cần phải làm gì rồi. Dịch một từ của ngôn ngữ nầy sang ngôn ngữ khác không phải lúc nào cũng được dễ dàng. Thí dụ từ Extra Dry hay Sec ghi trên chai rượu, ta không thể dich sang tiếng Việt là Khô được, mà khi nghe hoặc nói một ly sec Cognac , ai cũng biết là cái gì. Người tiếp rượu thường chỉ hỏi khách thích Hennessy, Martell hay Courvoisier. Có vài ông khách còn đòi đích danh Courvoisier Napoléon mới chịu. vì muốn chứng tỏ mình cũng có cùng sở thích với thiên tài quân sự Napoléon. Ngày xưa, khi vào quán rượu của người Việt Nam , ta gọi một cái “ còng “ thì ai cũng biết đó là một ly consommation ( rượu mạnh như Hennessey hay Courvoisier pha soda hay perrier rồi cho thêm đá cục vào.)
Còn nữa, trên các chai rượu Champagne thường thấy mấy chữ sau đây: Brut, Extra Dry,
Chữ Brut có nghĩa là ngọt lự hay lợ (hơi ngọt ), hoặc không ngọt. Vậy chữ Extra Dry, phải dịch thế nào cho đúng?
Chữ Dry và Sec trong tiếng Anh và tiếng Pháp đều có nghĩa đen là khô. Nhưng với rượu, Extra Dry lại có nghĩa là khá ngọt 2.0% đường trong 01 lít Champagne, và Sec thì ngọt nhiều hơn chút nữa, 3.5% đường trong 01 lít rượu.
Rượu lợi hại thật, chưa uống cũng thấy chóng mặt rồi. Nhưng khi uống vô rồi, không ai để ý đến mấy cái chuyện lẩm cẩm ấy nữa làm gì
Rượu nào ly đó.
Nói đến rượu phải nói đến ly đựng rượu, bất kể là rượu gì,nhưng cũng khá phức tạp.
Rượu đế thì dùng ly xây chừng, chung nhỏ. Whisky cũng xài ly nhỏ hoặc ly không có chân, Cognac và Brandy nói chung thì xài ly bầu, ( tulip glass ) chân ngắn, rượu càng ngon ly càng rộng để có mặt thoáng, tạo điều kiện cho rượu trong ly tiếp xúc dễ dàng với oxy tạo ra hương vị thơm nồng của rượu.
Ly dùng để uống Champagne, thay đổi hoàn toàn. Kiểu ly cũ, thành ly thấp miệng ly rộng và có chân. Loại ly nầy không còn xử dụng nữa. vì nó làm cho Champagne tan hết bọt nhanh chóng vì mặt thoáng rộng, Champagne hết bọt không khác gì nước lã. Ly champagne hiện nay có hình như một búp măng, thon cao và miệng ly gom nhỏ lại để bọt tan chậm và hương vị tập trung vào mũi người thưởng thức rượu Champagne. Hình dáng ly rượu giao bôi của cô dâu và chú rễ là điển hình.
Ly để uống Cognac sec, ly bầu miệng hơi gom lại, chân hay cuống ly ngắn.
Khi cầm ly rượu Cognac thơm ngon, người thưởng thức cầm phía dưới bầu ly, cuống ly ngắn, không đủ để cầm. Dụng ý của người làm ra loại ly nầy là để nhiệt độ ở bàn tay sưởi ấm bầu ly làm hương vị thơm tho của rượu bốc lên dễ dàng.
Ly để uống rượu vang lại khác, ly bầu, đáy sâu, cuống ly dài, khi để đứng, ly rất cao, để khi cầm ly rượu vang, tay không chạm vào bầu ly. Rượu vang, nhất là vang trắng khi hấp thụ nhiệt thì chất alcohol trong rượu bốc lên nhiều làm át mùi hương của rượu vang
Vì vậy chỉ cần nhìn thấy cách cầm ly rượu, người ta có thể, phần nào, biết được cái lịch duyệt của giới sành điệu.
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đối với mùi hương của rượu nói chung, nên có loại rượu cần ướp lạnh trước khi uống như Champagne và vài loại rượu vang.
Nhưng đối với Sake, rượu trắng của Nhật, cần phải hâm nóng trước khi uống. Tháng 9-1973, tôi được một người Mỹ mời dự tiệc tại nhà riêng của ông ở Philippines. Ông nầy là kỹ sư có trách nhiệm trang bị các giàn radar cho hệ thống đài kiểm báo của Hải Quân, dọc bờ biển VNCH.
Đây là lần đầu tiên, tôi uống sake, chủ nhà phải chỉ dẫn cách thức hâm rươu trước khi uống.
Người Mỹ đãi rượu sake, kể ra cũng khá đặc biệt và hiếm, có lẽ vì ông nầy có vợ là người Nhật. Buổi tiệc diễn ra trong bầu không khí thân mật, ấm cúng, một phần cũng do ly rượu sake ấm áp, thơm nồng mang lại.
Tiền nào của đó.
Rượu ngon phải đắt tiền, một chai rượu vang Pinot Noir của vùng Bordeaux giá từ vài chục đến cả ngàn đô, cũng có chai cùng loại giá chưa tới 10 đô. Một chai Hennessy XO phải đắt hơn chai VS.
Ngược lại, một chai rượu đắt tiền chưa chắc đã ngon. Thỉnh thoảng có vài chai rượu vang đắt tiền nhưng bị hư do cái nút chai ( cork ) bị mốc, rượu giả vân vân.
Một chai rượu đắt tiền, hương vị thơm ngát có thực sự mang lại thú vị cho người thưởng thức không?
Trong buổi tiệc thân mật, nếu có chai Champagne Dom Pérignon hay Veuve Clicquot Ponsardin, thì khá lắm.
Thường là như vậy, nhưng hương vị của Champagne nổi tiếng kia có phát huy được thanh thế hay không, còn tùy thuộc vào thức ăn đi kèm. Champagne có thể thích hợp với nhiều loại thức ăn khác nhau. Nhưng nếu, cuối bửa ăn, người ta đem bánh sinh nhật để ăn tráng miệng với nước uống là Champagne thì vô tình người ta đã làm hỏng thứ rượu Champagne đắt tiền kia, vì vị ngọt gắt của bánh. Món tráng miệng đi kèm với rượu Champagne tốt hơn nên dùng bánh Champagne, một loại bánh ngọt có hình dạng dài, hơi dẹp, trên có mấy hạt đường, vị không ngọt lắm. Còn nếu dùng trái cây, nên tránh loại nào có vị quá ngọt hoặc quá chua.
Nói tóm lại, việc nếm rượu, ngoài chuyện cần làm quen với rượu, tìm hiểu xem loại rượu nào hợp “ gout “ của mình và để khỏi bị lúng túng khi tổ chức một buổi tiệc có rượu, còn phải để ý đến sự hài hòa và cân đối giữa các thức ăn đi kèm với rượu. Có người còn gọi đây là “ Marriage “, nên cần phải xứng đôi vừa lứa. Cách gọi nầy tưởng cũng không phải là quá đáng .
Tháng 5-2009.
TVD-WA.
Subscribe to:
Posts (Atom)