Tiếng chuông Thiên Mụ.
http://www.dailymotion.com/video/x8ngw0_dem-tan-ben-ngu-ngoc-ha_music
( Mời click vào để nghe Ngọc Hạ hát- Đêm Tàn Bến Ngự nhạc Dương Thiệu Tước.)
http://www.dailymotion.com/video/x8ngw0_dem-tan-ben-ngu-ngoc-ha_music
( Mời click vào để nghe Ngọc Hạ hát- Đêm Tàn Bến Ngự nhạc Dương Thiệu Tước.)
Gíó đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Hai câu ca dao nầy chắc hẳn không xa lạ gì đối với chúng ta. Tuổi đời càng cao, tai ta nghe càng nhiều tiếng chuông, từ chuông giáo đường đến chuông chùa và ngay cả tiếng chuông đồng hồ Big Ben, từ xa vạn dặm, đưa tới.
Vài nét lịch sử về chùa Thiên Mụ. Ngày kia, chúa Nguyễn Hoàng đi dạo đến vùng đồi Hà Khê bên bờ sông Hương, cách trung tâm Huế chứng 5 hoặc 6 km,. nhìn thấy quả đồi như nổi lên hình con rồng quay đầu nhìn lại, phía trước trông ra sông dài, phía sau có hồ rộng, khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, hữu tình. Người dân địa phương thường nói cái đồi nầy linh lắm, thỉnh thoảng có một bà lão mặc áo đỏ, quần xanh hiện ra, ngồi trên đỉnh đồi và nói “ Rồi sau nầy sẽ có một minh chúa đến đây sửa núi xây chùa để tụ linh khí, bao tồn long mạch.”
Chúa Nguyễn Hoàng cho rằng nơi đây là địa linh nên cho xây trên đồi Hà Khê nầy một ngôi chùa và đặc tên là chùa Thiên Mụ, đến đời vua Tự Đức đổi tên là chùa Linh Mụ. Năm 1710, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc một cái chuông, trên chuông có khắc bài minh có câu.
Chú nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Việc đúc đại hồng chung nầy được thực hiện vào một ngày rằm, Phật đản, chú nguyên đúc chuông, có nhiều Phật tử đến thọ giới đã phát tâm, thả vào vạc đồng sôi nhiều vật quý giá. Nhờ vây chiếc chuông mang nhiều giá trị tâm linh và một lượng hợp kim đặc biệt nên âm thanh ngân nga, siêu thoát.
Năm Gia Long thứ 14 năm 1815, chùa có thêm một cái chuông nữa. Cái chuông nầy làm nhiệm vụ giữ nhịp thời gian cho đến nay, còn cái chuông đầu tiên được giữ lại như một pháp khí chứ không xử dụng.
Đại hồng chung không chỉ là một khối đồng vô tri. Theo niềm tin rằng tiếng chuông chùa có công năng, diệu dụng linh thiêng ở cả cõi u minh và dương thế. Về hình thức quả chuông là pháp khí của chùa, quan trọng hơn nữa là biểu tượng của Phật Giáo, nên lễ Rót Đồng đúc chuông, được thực hiện thật nghiêm trang với mọi thành tâm chú nguyện của tăng, ni, Phật tử cùng thí chủ.
Trong thời phong kiến, người đánh chuông Thiên Mụ gọi là Tăng cang, một chức quan do triều đình phê chuẩn. Người Tàu thì gọi là chung đầu.
Giờ giấc thỉnh chuông vào lúc 3.30 sáng và 7.30 tối. Mỗi lần thỉnh chuông là 108 tiếng chuông và đúng một tiếng đông hồ và phải đều đặn, trung bình 4 phút đánh 7 tiếng chuông. Người thỉnh chuông phải chú nguyện, tạo hạnh công, vừa thỉnh chuông vừa niệm câu kệ, điển hình như
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết.
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên.
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm,
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền.
( Thiên Mụ chung thanh – Thiệu Trị )
Nghĩa là.
Một trăm lẻ tám tiếng chuông làm tiêu tan trăm oán kết muộn phiền.
Ba ngàn thế giới tỉnh ba duyên.
Tiếng chuông giờ ngọ ban ngày cảm đến cõi trần lẫn cõi u minh.
Tiếng ngân xa vào giờ dần ban đêm cho thấy sự diệu huyền của Đạo.
Có người cho rằng tiếng chuông chùa Thiên Mụ vang xa là vì chùa ở trên một ngọn đồi cao, cạnh kề sông Hương, chỗ sâu nhất, tiếng chuông dội xuống sông nên vang xa.
Lại nữa, chuông đúc bằng đồng lẫn vàng bạc, tiếng đồng thì vang xa, tiếng vàng, bạc thì chận lại nên đã tạo nên âm thanh ngân nga đặc biệt như vây.
Người ta còn kể rằng.
Trong ngày đúc chuông, với lòng thành, ai có gì dâng cái đó để góp phần đúc chuông, một bà lão hành khất không có gì, bà bèn rứt cái nút áo để dâng. Người thợ đúc chuông chọn lựa và chỉ lấy đồng, thau, bạc, vàng. Cái nút áo của bà lão bị loại bỏ.
Chuông đúc xong, khai chuông, tiếng chuông ngân nga, thánh thót. Lúc đó người ta phát hiện trên mặt chuông có một lỗ nhỏ bằng hạt ngô, người thợ đúc chuông bèn miết cái lỗ nầy lại. Nhưng khi đánh thử thì chuông bị câm., phải moi chỗ vừa miết ra để lộ cái lỗ khuyết trên mặt chuông như trước. Tiếng chuông lại ngân nga siêu thoát.
Thế mới biết chuông chùa Thiên Mụ có hồn ngay từ khi mới đúc.
Cái lỗ khuyết trên mặt chuông đã góp một triết lý cho đời rằng.
“ Đừng coi thường sự đóng góp nhỏ nhoi của người hành khất.
Sự dâng hiến là do ở tấm lòng. Bà lão nầy cúng chùa một cái nút áo, giá trị không đáng kể. Thế nhưng tấm lòng thật rộng rải., bà dâng hết cái gì mình có. Người giàu dâng rất nhiều nhưng đó là một phần của cải của họ mà thôi.
Tôi có đọc câu chuyện một mụ góa dâng của ghi trong Thánh Kinh như sau
Mác 12:41-44.
41-Đức Chúa Jésus ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng, coi dân chúng bỏ tiền vào thế nào 42- Có lắm người giàu bỏ nhiều tiền; cũng có một mụ góa nghèo kia đến bỏ hai đồng tiền ăn một phần tư xu. 43- Ngài bèn kêu môn đồ mà phán rằng: Quả thật ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ tiền vào trong rương nhiều hơn hết thảy những kẻ đã bỏ vào. 44- Vì mọi kẻ khác lấy của dư mình bỏ vào, còn mụ nầy nghèo cực lắm, đã bỏ hết của mình có, là hết của có để nuôi mình.
Nói đến tiếng chuông chùa mà không nhắc đến tiếng chuông chùa Hàn Sơn, ở ngoại thành Tô Châu, thuôc tỉnh Giang Tô, bên Tàu e rằng thiếu sót.
Một giai thoại văn chương hiếm có.
Truyền thuyết kể rằng, vào thế kỷ thứ VIII, trong một đêm trăng, ở bến Phong kiều, có một chiếc thuyền dạo mát đậu lơ lửng trên sông, trong thuyền có một nhà sư và đệ tử, trụ trì tại chùa Hàn Sơn gần đó. Nhà sư ngẫu hứng ngâm nga hai câu thơ.
Sơ tam, sơ tứ, nguyệt mông lung.
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
( Mồng ba mông bốn trăng mờ,
Nửa đường móc bạc nửa như cung trời )
Chú tiểu thấy hay quá tiếp thêm hai câu.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy đế, bán phù không.
( Một bình ngọc trắng chia hai.
Nửa chìm đáy nước, nửa chìm từng không )
Nhà sư và chú tiểu trở về lại chùa thì đã nửa đêm. Nhà sư đánh chuông chùa lên để xin cảm tạ Đức Phật về sự hoàn thành bài thơ tứ tuyệt kể trên.
.Trong lúc đó,Trương Kế cũng đậu thuyền trên khúc sông nầy, dưới ánh trăng tà, đối cảnh sinh tình, ông cảm hứng và làm thơ.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên.
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Nhưng ông bị cụt hứng, lòng buồn, nằm ngủ trên thuyền. Chính tiếng chuông chùa mà nhà sư gióng lên lúc nửa đêm nầy ở chùa Hàn Sơn, vọng đến mạn thuyền đã gợi ý cho ông làm thêm hai câu cuối để có bài thơ tứ tuyệt, Phong Kiều Dạ Bạc. hoàn chỉnh.
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Trương Kế
Tản Đà dịch thơ.
Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
Bài thơ tứ tuyệt bất hủ nầy được yêu thích và truyền tụng hơn cả ngàn năm nay, nó đã góp phần làm giàu cho ngành du lich của Trung Hoa. Và dĩ nhiên, nó cũng có một vị trí xứng đáng trong trái tim của những người yêu thích thơ Đường.
Trở về với đất Thần Kinh, xứ Huế, nước Việt Nam.
Trở về với đất Thần Kinh, xứ Huế, nước Việt Nam.
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Hai câu ca dao trên đây là hai câu tả cảnh, tương tự như bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan., thấy sao nói vậy, nghe sao thuật vây. Nghĩa là phải nghe tận tai, nhìn tận mắt thì lời thơ mới xác thực và mới có hồn..
Gió đưa cành trúc la đà, diễn tả cảnh trí nên thơ, hữu tình dể hiểu, còn Tiếng chuông Thiên Mụ và canh gà Thọ Xương thì không khéo cũng dể bị hiểu sai..
Ta đã nói nhiều về Tiếng chuông Thiên Mụ. Bây giờ thử tìm hiểu hai chữ Thọ Xương.
Thọ Xương là tên chỉ địa danh. Có vài nơi ở cách xa nhau nhưng có cùng tên gọi là Thọ Xương như một ở Thanh Hóa, một ở Bạch Mai, Hà Nội..
Xết về lý thì nếu vừa nghe tiếng chuông Thiên Mụ ở Huế lai vừa nghe tiếng gà gáy ở tận Thanh Hóa hoặc Hà Nội là điều bất khả thi.
Trong Web site của trường học Hàm Nghi có bài viết về địa danh Thọ Xương như sau: Bài viết nầy có trích ra một đoạn trong Đại Nam Nhất Thống Chí:
“ Thọ Khương là một vùng đồi, sát cạnh bờ nam sông Hương, đối diện đồi Hà Khê bên kia sông. Từ đồi Thọ Khương có thể nhìn được toàn cảnh xứ Huế từ núi Kim Phụng đến phá Tam Giang, từ Văn Thánh, Võ Thánh đến bến chợ Dinh, Cồn Hến. Dưới rừng thông Thọ Khương là kho Thượng Khương, kho thóc tại Thuận Hóa, thời tiền Nguyễn.
Trước gọi là Thọ Khương, đầu niên hiệu Gia Long đổi thành Thọ Xương. Năm Minh Mạng thứ 5 đổi tên là đình Long Thọ Cương.”
Trước gọi là Thọ Khương, đầu niên hiệu Gia Long đổi thành Thọ Xương. Năm Minh Mạng thứ 5 đổi tên là đình Long Thọ Cương.”
Vây câu ca dao “ Tiếng chuông Thiên Mụ, Canh gà Thọ Xương ” xuất hiện vào thời vua Gia Long và Thọ Xương là một địa danh ở Huế, thêm vào các địa danh Thọ Xương đã có trước tại vài nơi khác.
Còn canh gà là tiếng gà gáy lúc canh tư hay canh năm, báo hiệu trời sắp sáng, nhờ đó mà người dân ở địa phương biết được giờ giấc để chuẩn bị cho một ngày mới.
Chiếc đại hồng chung lớn nhất vùng Đông Nam Á.Tháng 8 năm 2006, tại một lò đúc đồng ở Huế, người ta bắt đầu công việc đúc chiếc đại hồng chung nặng 30 tấn với chi phí là 6,5 tỷ..
Đại hồng chung nầy sẽ được an trí tại khu di tích văn hóa, lịch sử Trường Yên, Ninh Bình để kỷ niêm 1000 năm ngày Thăng Long được Lý Thái Tổ khai sanh năm 1010. Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đóng đô tại Hoa Lư, Ninh Bình, ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu năm 1009 Mùa Thu năm 1010 dời đô về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long.
Theo niềm tin cho rằng tiếng vang của chuông chùa có thể thấu đến cõi địa ngục u ám, chúng sinh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông nầy liền được giải thoát. Lại nữa tiếng chuông thánh thót của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt lòng tham lam, sân hận mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.
Tiếng chuông chùa Thiên Mu được các bậc vua chúa, Phật tử và dân thường trân trọng, chú nguyện, lắng nghe, bảo toàn từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu đến vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Tính đến nay, trải qua chiều dài lịch sử gần 300 năm, tiếng chuông chùa Thiên Mụ không ngừng ngân nga, siêu thoát trên dưới 23,573,160 tiếng, đem đến người nghe niềm tin bất hoại vào Đạo vị. Người dân thường cũng biết được thời khắc, giúp cho sinh hoạt thường nhật của họ được điều hòa nhờ,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
Linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, giáo sư môn triết học của viện Hán học, Huế, nói rằng: “ Tổ quốc ta, phải nghe trong tiếng chuông Linh Mụ.’’
Còn chiếc đại hồng chung lớn nhất vùng Đông Nam Á, đặt tại khu di tích lịch sử ở Trường Yên, Ninh Bình, liệu có đủ công năng để mang được tiếng ngân nga diệu huyền của tiếng chuông Bát nhã đến những kẻ đang bị đọa để họ được giải thoát hay không?.
Tiếng chuông đại hồng chung quốc doanh nầy có thể giúp cho loài quỷ đói, khát máu, nhẹ bớt lòng tham lam như niềm tìn của Phật tử chân chính, có lòng thành chú nguyện hay không?. Hay khi tiếng chuông gióng lên chỉ khiến cho lòng người thêm buồn thảm hơn so với nỗi buồn của bà Huyện Thanh Quan?.
Thăng Long Thành Hoài Cổ.
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?.
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Bà Huyện Thanh Quan
Chỉ có người dân Việt Nam yêu chuộng Tự Do và Công Lý mới có câu trả lời trung thực nhất, không ai có thể trả lời thay cho họ được.
Một ngàn năm Thăng Long, 1010 – 2010. TVD-Wa.
No comments:
Post a Comment